- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 68 Bộ luật dân sự và các Điều
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2017/QĐDS-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2017 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Bá Diễn - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Trung - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 62/2017/TLST-VDS ngày 17 tháng 4 năm 2017 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 125/2017/QĐPH-ST ngày 25 tháng 8 năm 2017.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1983; Nơi đăng ký HKTT: Tổ 1, ấp 2, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ cư trú: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Vấn đề cụ thể bà Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố ông Phan Văn T (sinh năm 1981; Nơi đăng ký HKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai) mất tích.
NHẬN THẤY:
Trong đơn yêu cầu và tại phiên họp, bà Nguyễn Thị Th trình bày:
Bà và ông T cùng làm công nhân ở khu công nghiệp B ( huyện T, tỉnh Đ ) nên quen biết rồi yêu thương nhau. Năm 2012, bà với ông T kết hôn và được UBND xã C, huyện L ( nơi bà Th có hộ khẩu thường trú ) cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, ông T đến sống chung với bà tại khu nhà trọ ở ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đ và làm công nhân ở khu công nghiệp B. Bà và ông T chưa có con; tài sản chung và nợ chung cũng không có. Đến một ngày trong tháng 4/2013 ( bà không nhớ ngày cụ thể ), bà và ông T cãi nhau, ông T đánh bà nên bị Công an xã T đến nhắc nhở. Do bực tức nên ngay hôm đó, ông T bỏ đi và biệt tích cho đến nay.
Vì ông T không còn quan tâm gì đến bà nữa, bà đã chờ đợi nhưng vô vọng, dần dần tình cảm yêu thương của bà dành cho ông T không còn nên bà muốn ly hôn với ông T. Do không biết ông T đang ở đâu nên bà đã làm đơn yêu cầu và Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định số 11/2016/QĐVDS-ST ngày 23/6/2016 Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T. Nội dung thông báo này đã được đăng trên báo Nhân dân và phát thanh trên Đài Tiếng Nói Việt Nam vào tháng 7, tháng 8 năm 2006 nhưng sau đó vẫn không có tin tức gì của ông T.
Ngày 17/4/2017, bà tiếp tục nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom tuyên bố ông Phan Văn T mất tích và thông báo tìm kiếm ông T lại một lần nữa được đăng tin trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay đã quá 4 tháng vẫn không có tin tức gì về ông T. Do vậy bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất tích để bà có đủ điều kiện xin ly hôn với ông T.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Tòa án đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng và các quy định của pháp luật về việc giải quyết việc dân sự “tuyên bố một người mất tích”. Yêu cầu của bà Th là hợp pháp và có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Thêu, tuyên bố ông Phan Văn T mất tích.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhận định:
Bà Th đã cung cấp cho Tòa án tài liệu là “Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn” của ông T và bà Th được UBND xã C, huyện L cấp năm 2012. Như vậy ông T và bà Th là vợ chồng và mục đích bà Th yêu cầu giải quyết việc dân sự này là để xin ly hôn với ông T. Tại “Đơn xin xác nhận người vắng mặt tại nơi cứ trú” của bà Th, được Công an xã T xác nhận ngày 20/5/2016 thì ông T đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng ở số nhà 02/3, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai từ tháng 4/2013. Do đó, bà Th có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất tích và Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có thẩm quyền giải quyết yêu cầu này của bà Th.
Do không xác định được ngày có tin tức cuối cùng ( ngày ông T bỏ đi khỏi nơi cư trú ) nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng. Như vậy ngày có tin tức cuối cùng của ông T là ngày 01/5/2013.
Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã ra Quyết định số 11/2016/QĐVDS-ST ngày 23/6/2016 thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T. Nội dung thông báo này đã được đăng trên báo Nhân dân vào các ngày 24, 25, 26 tháng 7 năm 2016 và phát thanh trên Đài Tiếng Nói Việt Nam vào các ngày 11, 12, 13 tháng 8 năm 2006. Sau khi bà T có đơn yêu cầu tuyên bố ông T mất tích, thông tin tìm kiếm ông T lại được tiếp tục đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng gồm: Báo Lao động; Đài Tiếng Nói Việt Nam; Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao; Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Đồng Nai. Ngày đăng, phát đầu tiên là ngày 24/4/2017, tính đến nay đã quá 04 tháng và tính từ ngày ông T bỏ đi biệt tích ( từ ngày 01/5/2013 ) đến nay là đã trên 02 năm mà không có tin tức xác thực về việc ông T còn sống hay đã chết. Do vậy yêu cầu của bà Th về việc tuyên bố ông T mất tích là có cơ sở chấp nhận.
Quan điểm của Kiểm sát viên về đường lối giải quyết yêu cầu của bà Th phù hợp với nhận định của Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 68 của Bộ luật dân sự và các Điều: 27, 149, 370, 371, 372, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th. Tuyên bố: Ông Phan Văn T mất tích. 2. Về Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí mà bà Th đã nộp theo biên lai thu lệ phí số 005176 ngày 17/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Như vậy, bà Th đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Trảng Bom, Đồng Nai; - UBND xã T, huyện T, Đồng Nai; - UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Quãng Ngãi; - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Lưu hồ sơ giải quyết việc dân sự. | THẨM PHÁN Bùi Bá Diễn |