- Tranh chấp gì? Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại — án kinh doanh thương mại — "Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài"
- Tòa quyết gì? Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 04/19 HCM ngày 26/4/2019 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V giữa nguyên đơn Công ty TNHH Một Thành Viên chứng khoán M và bị đơn Ông Đỗ H.
- Căn cứ chính? Điều 69 Luật Trọng tài thương mại; Điều 7 Luật Trọng tài thương mại; Điều 71 Luật Trọng tài thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1590/2019/QĐ-PQTT Ngày: 12/11/2019 |
QUYẾT ĐỊNH
V VIỆC HỦY PH N QUYẾT TR NG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
V i Hội đ ng xét đ n yêu cầu g m có:
Thẩm phán - Chủ tọa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Công Phú
Bà Lưu Thị Đoan Trang
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Hồ Thị Kim Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: ông Huỳnh Thanh Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 73/TLST-KDTM ngày 20/6/2019 về yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo Quyết định mở phiên họp số 5044/2019/QĐ-MPH ngày 21/10/2019, giữa:
Người yêu cầu: Ông Đỗ H; Địa chỉ: Đường C, Phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị U, là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền lập ngày 08/4/2019) - có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Luật sư Phan Huy K – thuộc Văn phòng Luật sư B – Địa chỉ: đường P, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - có mặt
Là bị đơn trong phán quyết trọng tài;
Người liên quan:
1. Công ty TNHH Một Thành Viên chứng khoán M; Địa chỉ: Tầng A-tòa nhà V, đường Đ, phường N, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Minh T, là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền số 016//2019/QĐ-MBKE lập ngày 02/8/2019) - có mặt.
Là nguyên đơn trong phán quyết trọng tài;
2. Trung tâm trọng tài V; địa chỉ liên hệ: đường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Đăng H, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/10/2019) – có mặt.
Căn cứ vào Điều 71 của Luật Trọng tài thương mại;
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ kèm theo gồm: Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 04/19 HCM ngày 26/4/2019, văn bản 629/VIAC-HCM ngày 16/4/2019, Quyết định chỉ định trọng tài viên số 17/HCM/VIAC ngày 01/3/2019, Đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 16/4/2019; văn bản 630/VIAC-HCM ngày 16/4/2019 về việc nộp bổ sung phí trọng tài, phiếu báo phát, thông báo 120/VIAC-HCM ngày 23/01/2019.
Sau khi xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đề ngày 23 tháng 5 năm 2019 của ông Đỗ H với Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 04/19 HCM của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V lập ngày 26/4/2019 tại Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là phán quyết trọng tài) giải quyết tranh chấp phát sinh từ Thỏa thuận bảo lãnh số 01/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, Thỏa thuận bảo lãnh số 02/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, Thỏa thuận bảo lãnh số 03/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, giữa Công ty TNHH Một Thành Viên chứng khoán M và ông Đỗ H;
NỘI DUNG YÊU CẦU VÀ CĂN CỨ YÊU CẦU HỦY PH N QUYẾT
TR NG TÀI:
Nội dung tranh chấp: Theo đơn kiện ngày 11/01/2019 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/4/2019, Công ty TNHH một thành viên chứng khoán M yêu cầu ông Đỗ H thanh toán số tiền 1.904.045.854 VND gồm dư nợ còn thiếu là 1.743.780.363 VND và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 16/4/2019 là 160.265.491 VND phát sinh từ các Thỏa thuận bảo lãnh số 01/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, Thỏa thuận bảo lãnh số 02/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, Thỏa thuận bảo lãnh số 03/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, giữa Công ty TNHH Một Thành Viên chứng khoán M và ông Đỗ H.
Nội dung phán quyết trọng tài: Buộc ông Đỗ H thanh toán cho Công ty THHH một thành viên chứng khoán M số tiền tổng cộng là 1.904.045.854 VND bao gồm nợ gốc là 1.743.780.363 VND, lãi chậm thanh toán là 160.265.491 VND, phí trọng tài là 125.578.000 VND. Thời hạn thanh toán là 30 ngày. Đồng thời phán quyết trọng tài còn quyết định về nghĩa vụ do chậm thi hành phán quyết.
Nội dung yêu cầu và căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài: Ông Đỗ H yêu cầu hủy phán quyết trọng tài do đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài được quy định tại Điều 32, Điều 35, Điều 40 Luật TTTM 2010 và Điều 9, Điều 12 Quy tắc tố tụng trọng tài do chính Trung tâm trọng tài V ban hành, cụ thể các vi phạm là:
1. Không gửi thông báo, đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ cho ông Đỗ H;
2. Trung tâm trọng tài V chỉ định trọng tài khi ông Đỗ H chưa có yêu cầu và chưa hết thời hạn 30 ngày theo quy định;
3. Trung tâm trọng tài V thông báo và mở phiên họp giải quyết khi ông Đỗ H chưa có ý kiến bảo vệ và có đơn khởi kiện lại;
4. Hội đồng trọng tài giải quyết yêu cầu bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không gửi thông báo, đơn khởi kiện bổ sung cùng các tài liệu chứng cứ cho ông Đỗ H theo quy định.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét đơn, các tài liệu kèm theo và nghe ý kiến của những người được triệu tập, ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại thì đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của ông Đỗ H trong thời hạn luật định.
Căn cứ khoản 2 Điều 31; điểm a khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 414 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại thì việc xét đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của ông Đỗ H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Về khiếu nại Trung tâm trọng tài V không gửi thông báo, đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ cho ông Đỗ H:
Theo Điều 3 của Quy tắc tố tụng Trọng tài quy định: “ 2. Thông báo, tài liệu được Trung tâm gửi tới các bên theo địa chỉ được các bên cung cấp và có thể gửi bằng…thư bảo đảm…; 3. Thông báo, tài liệu do Trung tâm gửi tới các bên được coi là đã nhận vào ngày mà các bên đã nhận, hoặc được coi là đã nhận vào ngày giao nếu thông báo, tài liệu đó được gửi phù hợp với khoản 2 Điều này.”
Theo các tài liệu chứng cứ như: Thỏa thuận bảo lãnh số 01/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, Thỏa thuận bảo lãnh số 02/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017, Thỏa thuận bảo lãnh số 03/17/HĐBL-MBKE ngày 10/8/2017 được ký kết giữa ông Đỗ H và Công ty TNHH Một Thành Viên chứng khoán M và xác nhận của phía người đại diện ông Đỗ H tại phiên họp thì ông Đỗ H có địa chỉ thường trú và chỗ ở hiện tại ở Đường C, Phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo phiếu báo phát của Công ty Cổ phần chuyển phát nhanh Bưu Điện “EMS” thể hiện Trung tâm Trọng tài đã thực hiện việc gửi thông báo và tài liệu vụ kiện đến ông Đỗ H theo đúng địa chỉ như trên.
Do vậy khiếu nại này của ông Đỗ H không được chấp nhận.
Khiếu nại Trung tâm trọng tài Quốc tế V chỉ định trọng tài khi ông Đỗ H chưa có yêu cầu và chưa hết thời hạn 30 ngày theo quy định.
Theo khoản 2 Điều 12 của Quy tắc tố tụng Trọng tài quy định:
“ Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, Bị đơn phải chọn một Trọng tài viên hoặc yêu cầu Trung tâm chỉ định một trọng tài viên và phải thông báo cho trung tâm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày nhận được Thông báo, đơn khởi kiện và các tài liệu khác có liên quan….
Trong trường hợp bị đơn không chọn trọng tài viên hoặc không yêu cầu Trung tâm chỉ định Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày nêu trên, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn, Chủ tịch Trung tâm ra Quyết định chỉ định một Trọng tài viên thay cho Bị đơn.”
Căn cứ xác nhận của Bưu cục phát Quận 10A thì Bưu phẩm do Trung tâm Trọng tài gửi đến ông Đỗ H, địa chỉ Đường C, Phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh được phát tại địa điểm trên vào ngày 24/01/2019, người nhận là Trần Mỹ P. Như vậy, đến ngày 01/03/2019 Trung tâm trọng tài V ra Quyết định số chỉ định ông Dương Anh S làm trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp (quyết định số 17HCM/VIAC ngày 04/3/2019) là không có vi phạm thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Quy tắc tố tụng Trọng tài. Do vậy khiếu nại này của ông Đỗ H là không có cơ sở.
Xét khiếu nại Trung tâm trọng tài V thông báo và mở phiên họp giải quyết khi ông Đỗ H chưa có ý kiến bảo vệ và có đơn khởi kiện lại:
Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 của Quy tắc tố tụng Trọng tài quy định: “Trừ khi các bên có thỏa thuận khác về thời hạn, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày nhận được Thông báo, Đơn khởi kiện, Thỏa thuận trọng tài và các tài liệu khác có liên quan, Bị đơn phải gửi tới Trung tâm Bản tự bảo vệ…Tố tụng trọng tài vẫn được tiến hành kể cả khi Bị đơn không gửi bản tự bảo vệ.”; “Đơn kiện lại phải được gửi tới Trung tâm vào cùng thời điểm gửi bản tự bảo vệ.”
Căn cứ xác nhận của Bưu cục phát Quận 10A, thì ngày được coi là ông Đỗ H đã nhận Thông báo và các tài liệu là ngày 24/01/2019 đến ngày Hội đồng trọng tài Thông báo và gửi Giấy triệu tập mở phiên họp là ngày 29/3/2019 (cách 58 ngày).
Như vậy việc Hội đồng trọng tài vẫn tiến hành tố tụng trọng tài sau khi đã hết thời hạn 30 ngày để ông Đỗ H gửi bản tự bảo vệ và đơn kiện lại là phù hợp. Khiếu nại này của ông Đỗ H không được chấp nhận.
Xét khiếu nại Hội đồng trọng tài giải quyết yêu cầu bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không gửi thông báo, đơn khởi kiện bổ sung cùng các tài liệu chứng cứ cho ông Đỗ H theo quy định.
Xét thấy tại đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả thêm khoản tiền lãi phát sinh từ ngày khởi kiện đến ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp. Đây là nội dung thuộc phạm vi khởi kiện ban đầu (yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi do chậm trả) nên đây không phải là yêu cầu khởi kiện mới, việc Hội đồng trọng tài xem xét giải quyết mà không thực hiện các thủ tục tố tụng như “Đơn khởi kiện” ban đầu là không trái với quy tắc tố tụng trọng tài. Khiếu nại này của ông Đỗ H không được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, đồng thời căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, thì các khiếu nại của ông Đỗ H không được chấp nhận nên không có căn cứ để hủy phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 04/19 HCM như yêu cầu của ông Đỗ H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 04/19 HCM ngày 26/4/2019 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V giữa nguyên đơn Công ty TNHH Một Thành Viên chứng khoán M và bị đơn Ông Đỗ H.
2. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, các bên, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị./.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND cấp cao tại TP HCM; - VKSND cấp cao tại TP HCM; - VKSND TP HCM; - Cục THADS TP.HCM; - TT Trọng tài V; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN H P THẨM PH N - CHỦ T A PHIÊN H P Ngô Thanh Nhàn |