vanban.org

Quyết định 159/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

104, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma tuý;

21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điểm b khoản 1 Điều 3; các Điều 6, 23, 31, 32, 33 Pháp lệnh số: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? 104, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma tuý;
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:159/2025/QĐ-TAThành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Hoa

2. Thư ký phiên họp: Bà Bùi Lê Anh Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân Khu

vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 –

Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 122/2025/QĐ-TA ngày 27 tháng 11 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Phạm Ngọc T; Sinh ngày 04-10-1981; Căn cước công dân

số:077081005659, nơi cấp: Cục C về TTXH; giới tính: nam; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc:Kinh; nghề nghiệp: Tự do; HKTT: KP K, phường L, TP Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; con ông Phạm Văn L và bà Phạm Thị T1; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng năm 1997; năm 2002, bị UBND tỉnh B đưa vào cơ sở chữa bệnh do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy năm 2024; năm 2001, bị Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn T2– Cán bộ Công an

phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Nguyễn Thị Lan Hương- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung hồ sơ

áp dụng biện pháp xử lý hành chính được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc T sử dụng ma túy Heroin từ năm 2001. Ngày 02-9-2025, Công

an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét nghiệm và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời phối hợp cùng Trung tâm y tế thành phố P theo dõi xác định tình trạng nghiện, xác định Phạm Ngọc T là người nghiện ma túy vào ngày 05-9-2025, Phạm Ngọc T đã được thông báo tình trạng nghiện ma túy nhưng Phạm Ngọc T từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 05-9-2025, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Phạm Ngọc T. Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị Phạm Ngọc T đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Tại phiên họp:

- Đại diện Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên đề

nghị Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xem xét ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc T, đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 đến 24 tháng.

- Phạm Ngọc T thừa nhận bản thân là người nghiện ma túy, tần suất sử

dụng 01 lần/tuần phải phụ thuộc vào ma túy; công nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tuân thủ theo pháp luật trong việc

xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

- Cơ quan đề nghị và người bị đề nghị đã tuân thủ các quy định của pháp

luật.

- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã

tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan và đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc T với thời hạn 22 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính, ý kiến của

người đại diện Cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến. Thẩm phán chủ trì phiên họp nhận định:

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thời hiệu giải quyết: Ngày 02-9-2025, Công an phường T, Thành phố Hồ

Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 24-11-2025, Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 02-12-2025, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc T là còn trong thời hiệu, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm Hành chính.

- Thẩm quyền giải quyết:

Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí

Minh theo quy định tại Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2025 và Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ:

Cơ quan lập hồ sơ đề nghị theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103

Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020); các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:

. Theo lời khai có trong quá trình lập hồ sơ, Phạm Ngọc T đã thừa

nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của Phạm Ngọc T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định Phạm Ngọc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05-9-2025 của Trung tâm y tế thành phố P kết luận Phạm Ngọc T là người nghiện ma túy Heroin.Phạm Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

. Tình tiết tăng nặng: Không.

. Tình tiết giảm nhẹ: Phạm Ngọc T đã tự nguyện khai báo, thành thật

hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

. Phạm Ngọc T có đầy đủ năng lực hành vi, nhận biết được tác hại của

ma túy đối với bản thân và gia đình, xã hội nhưng từ chối cai nghiện tự nguyện. Đồng thời, T còn có nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng và sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2002 và năm 2024; bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 20001 nhưng không có ý thức tu sửa bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc T một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để có thể học tập, rèn luyện, cai nghiện và từ bỏ được ma túy trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Xét đề nghị của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc T là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; các Điều 95, 96, 103,

104, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma tuý;

- Các Điều 33, 40, 41, 42, 43, 44, 45 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày

21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Điểm b khoản 1 Điều 3; các Điều 6, 23, 31, 32, 33 Pháp lệnh số:

03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Phạm Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi tư)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 05-9-2025).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị; Trưởng Công

an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ sở Cai nghiện ma túy

số 06, Phòng PC04, Công an Thành phố H có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ