vanban.org

Quyết định 159/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Công H.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của bà Nguyễn Thị Công H. là ngày 01/01/1996. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Công H.- Nguyễn Thị Công H."
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Công H.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 159/2019/QĐST-DSQuận 6, ngày 29 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Nguyên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2019, tại Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 20/2019/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2019 về “ Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 164/2019/QĐMPH-DS ngày 20 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Công H., sinh năm 1952

Địa chỉ: đường 13, phường B, Quận C, TP.HCM.

(Ông H. có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Nguyễn Công H. có đơn yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Tại bản tự khai cũng như tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 20/5/2019, ông Nguyễn Công H. trình bày: Cha ông là Nguyễn Công Tú (mất năm 1968) mẹ là bà Lý Thị Hai (mất năm 1966) chung sống có 4 người con: Nguyễn Công H., Nguyễn Thị Công H., Nguyễn Công Phước (mất năm 1983) – độc thân, Nguyễn Công Đức (mất năm 2005) – độc thân. Riêng bà Nguyễn Thị Công H. vào năm 1990 đã bỏ nhà đi đâu không rõ, thời điểm đó bà H. đã có dấu hiệu bị bệnh tâm thần và còn độc thân. Trước khi đi bà H. ở tại địa chỉ: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình đã nhiều năm tìm kiếm nhưng không có tin tức.

Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 6 tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

ông Nguyễn Công H. có đơn yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Đây là việc dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người yêu cầu có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp đề ngày 20/5/2019. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án vẫn tiến hành phiên họp.

Theo xác minh của Công an Phường 6, Quận 6: Đương sự Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1990 bỏ địa phương đi đến nay.

Tòa án nhân dân Quận 6 đã ra quyết định số 04/2019/QĐ-TBTK ngày 11/01/2019 cùng thông báo số 04/TB-TK ngày 11/01/2019 về việc thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Thông báo này đã được đăng trên: báo Lao Động là báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp, theo quy định tại các Điều 384, Điều 385, khoản 1, 2, 4 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên là ngày 15/01/2019.

Như vậy, bà Nguyễn Thị Công H. đã biệt tích hai mươi chín năm (tính từ năm 1990 đến nay), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh còn sống hay đã chết, nên có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị Công H. hiện đã chết như quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về ngày chết của bà Nguyễn Thị Công H. là ngày biết được tin tức cuối cùng của bà Nguyễn Thị Công H.. Ông H. không xác định được ngày tháng bà H. bỏ nhà đi chỉ biết là năm 1990. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 68 “ … nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng”. Như vậy ngày chết của bà Nguyễn Thị Công H. được tính là sau 5 năm kể từ ngày 01/01/1991 là ngày 01/01/1996.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị Công H., theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H. là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị Công H. được giải quyết như đối với một người đã chết. Quan hệ về tài sản của bà Nguyễn Thị Công H. được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Nguyễn Thị Công H. được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công H. tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Như vậy, Tòa án có đủ cơ sở tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết theo yêu cầu của ông Nguyễn Công H..

Về lệ phí việc dân sự: Ông Nguyễn Công H. được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 68, Điều 71 Bộ Luật dân sự 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Công H.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H., sinh năm 1955 – nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

- Ngày chết của bà Nguyễn Thị Công H. là ngày 01/01/1996.

- Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Công H. là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị Công H. được giải quyết như đối với một người đã chết.

Quan hệ về tài sản của bà Nguyễn Thị Công H. được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Nguyễn Thị Công H. được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2/ Về lệ phí việc dân sự: Ông Nguyễn Công H. được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

+ Các đượng sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết tại địa phương.

+ Viện kiểm sát có quyền kháng nghịquyết định này theo quy định củapháp luật.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ