vanban.org

Quyết định 157/2017/QĐDS-ST — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 27/11/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1979; nơi cư trú cuối cùng: phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, ông Trần Văn M phải có trách nhiệm đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K trên một trong các Báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Ông M thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà K"
  • Tòa quyết gì? Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1979; nơi cư trú cuối cùng: phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Số: 157/2017/QĐDS-ST
Ngày: 27- 11- 2017
V/v: “Thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN–TỈNH BÌNH ĐỊNH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thùy Trang - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 118/2017/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú" theo Quyết định mở phiên họp số 141/2017/QĐPH-ST ngày 15 tháng 11 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Trần Văn M - sinh năm: 1968 (có mặt)

Địa chỉ: Phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

2. Người bị yêu cầu:

Bà Trần Thị K - sinh ngày: 14/4/1979

Nơi cư trú cuối cùng: Phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Ông Trần Văn M có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K do bà K đã bỏ nhà đi từ tháng 8 năm 2013 đến nay không có tin tức gì.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn nhận định:

Ông Trần Văn M và bà Trần Thị K là vợ chồng theo giấy chứng nhận kết hôn số 246, quyển số 2104, đăng ký ngày 17/12/2004 tại UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vợ chồng ông M và bà K chung sống tại phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Từ tháng 8/2013 đến nay bà K bỏ nhà đi không liên lạc với gia đình và ông M đã nhiều lần tìm kiếm bà K nhưng không có tin tức gì. Nay ông M yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà K.

Xét yêu cầu của ông M thấy rằng: Bà Trần Thị K bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 8 năm 2013 đến nay. Hiện gia đình ông M không biết bà K đang ở đâu, làm gì. Qua xác nhận ngày 02/10/2017 của Công an phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định và biên bản xác minh ngày 02/11/2017 của Tòa án thì bà Trần Thị K có hộ khẩu thường trú tại phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định từ tháng 8/2013 đến nay không có mặt tại nơi cư trú và bà K ở đâu, làm gì không báo cáo với chính quyền địa phương.

Như vậy, bà K đã biệt tích trên 06 tháng liền, căn cứ Điều 64 của Bộ luật Dân sự: “Khi một người biệt tích từ 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật...”. Do đó, ông M yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K là có căn cứ nên Tòa xét chấp nhận đơn yêu cầu của ông M.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì ông M phải chịu 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về trình tự, thủ tục Tòa án thực hiện từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp là đúng quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Văn M.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 383 và Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 64 của Bộ luật Dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

1. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1979; nơi cư trú cuối cùng: phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, ông Trần Văn M phải có trách nhiệm đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trần Thị K trên một trong các Báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do ông Trần Văn M chịu.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn M phải chịu 300.000đồng nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0005423 ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn (đã nộp xong).

3. Quyền kháng cáo: Ông Trần Văn M có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ