vanban.org

Quyết định 153/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 24/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mai H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng: - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Mai Hương - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mai H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 153/2021/HS-ST
Ngày: 24/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phúc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh - Thẩm tra viên Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2021/HSST ngày 08/7/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ MAI H, giới tính: Nữ- sinh năm 1962. Nơi cư trú: Số 29, ngõ D, phường T, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn L (đã chết); con bà: Đỗ Thị Minh N. Chồng: Lê Ngọc L; có 02 con. Tiền án: không; Tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 28/6/2011, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại tháng 5 năm 2013 (án đã xóa); Ngày 20/3/2014 Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 32 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 24/5/2016 (án đã xóa).DCB số 150 lập ngày 30/3/2021 tại Công an quận Thanh Xuân; Bắt quả tang ngày: 28/3/2021; Tạm giam ngày: 07/4/2021. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : Anh Nguyễn Kiên C-sinh

năm : 1974, HKTT : Tổ 4, phường P, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chỗ ở : Số 48, ngõ T, phường H, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/3/2021, tổ công tác cơ động Y30/141 Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại tuyến đường Nguyễn Trãi, KH Trung, Thanh Xuân, Hà Nội phát hiện Nguyễn Kiên C (Sinh năm: 1974, HKTT: Tổ 4, phường P, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Spacy, màu trắng, không BKS chở theo Nguyễn Thị Mai H có biểu hiện nghi vấn. Khi đi đến trước số 31 Nguyễn Trãi, KH Trung, Thanh Xuân, Hà Nội, tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với C và H. Quá trình kiểm tra, H tự giác lấy từ bên trong túi quần bên phải mình đang mặc có 01 túi nilong màu trắng kích thước 1,5x1,5cm, bên trong chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng và một số mảnh viên màu hồng. H khai nhận đây là ma túy tổng hợp hồng phiến H mua về để sử dụng và giao nộp cho tổ công tác. Kiểm tra C, tổ công tác không phát hiện gì, tổ công tác đã đưa H, C cùng toàn bộ tang vật về trụ sở để giải quyết.

Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Thị Mai H:

- 01 túi nilong màu trắng, kích thước 1,5x1,5cm, bên trong chứa 01 viên nén màu hồng và các mảnh vụn màu hồng;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei1 là: 357340082824169; số Imei2: 35734008224177; máy bên trong lắp sim số: 0356768372;

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu hồng; số imei1 là: 869809032648317; số Imei2 là: 869809032648325, bên trong lắp 02 sim số: 0776397483, 0917149163;

- Số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Kiên C:

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng có số Imei1: 353002071448046; Imei2: 353003071448044 lắp sim1: 0353916760; sim2: 0378705992, đã qua sử dụng;

- 01 xe máy hiệu Spacy màu trắng, không đeo BKS, có SK: TF04 – 1208664, SM: JF04E – 2108660 đã qua sử dụng;

- Số tiền 300.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 2733/KLGĐ-PC09 ngày 04/4/2021 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 01 viên nén màu hồng và các mảnh viên màu hồng bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,146 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Mai H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và khai số ma túy mà cơ quan công an thu giữ là của H mua của một phụ nữ tên là T (hiện chưa xác định được) vào khoảng đầu tháng 02/2021 tại khu vực vỉa hè đường Đê La Thành với giá 150.000 đồng. Trước khi bị bắt, H đã cùng C sử dụng 1 phần số ma túy mua được. Số ma túy còn lại H cất vào trong túi quần bên phải mình đang mặc với mục đích để tiếp tục sử dụng sau nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác bắt giữ. Việc H tàng trữ ma túy trong người, C không biết và liên quan.

Đối với Nguyễn Kiên C, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Mai H. Kiểm tra ma túy trong cơ thể của C cho kết quả dương tính. Do trước khi bị kiểm tra bắt giữ, C khai cùng H sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Kiên C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghi định 167/2013/NĐ -CP.

Đối với người bán ma túy cho H, do H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei1 là: 357340082824169; số Imei2: 35734008224177; máy bên trong lắp sim số: 0356768372 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu hồng; số imei1 là: 869809032648317; số Imei2 là: 869809032648325, bên trong lắp 02 sim số: 0776397483, 0917149163 và số tiền 1.000.000 đồng qua xác minh là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Mai H, không sử dụng vào mục đích phạm tội.

Đối với chiếc điện thoại 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng có số Imei1: 353002071448046; Imei2: 353003071448044 lắp sim1: 0353916760; sim2: 0378705992, đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng qua xác minh là tài sản hợp pháp của Nguyễn Kiên C, không sử dụng vào mục đích phạm tội.

Đối với chiếc xe máy hiệu Spacy màu trắng, không đeo BKS, có SK: TF04 – 1208664, SM: JF04E – 2108660, Nguyễn Thị Mai H khai chiếc xe máy trên H mua của bà Phạm Thị S (Sinh năm 1958, HKTT: tại số 1A phường T, Đống Đa, Hà Nội). Khi mua xe không có giấy tờ xe nhưng bà Scó đưa cho H Quyết định thi hành án chủ động của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai về việc trả lại chiếc xe máy trên cho bà Svà các giấy tờ cá nhân của bà Snên H tin tưởng mua. Tiến hành lấy lời khai chủ đăng ký chiếc xe máy trên, bà Nguyễn Thị T (Sinh năm 1963, địa chỉ: 101 tổ 5 Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội) khai năm 2002, bà T mua và đứng tên chính chủ chiếc xe máy trên. Đến năm 2007, bà T bán chiếc xe trên cho người khác nhưng không nhớ bán cho ai. Hiện tại bà T không phải chủ sở hữu và cũng không biết ai là chủ sở hữu chiếc xe máy trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng 02 số báo để tìm chủ sở hữu của chiếc xe trên hiện chưa xác minh được chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSTX ngày 05/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân- thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mai Hvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249-Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân sau khi phân tích, đánh giá toàn bộ tình tiết nội dung vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo H từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) tháng tù. Do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt phạt tiền đối với bị cáo.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên, tịch thu tiêu hủy: 0,146 gam ma túy loại Methamphetamine.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Mai H 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei1 là: 357340082824169; số Imei2: 35734008224177, bên trong lắp sim số: 0356768372; 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu hồng, số Imei1: 869809032648317; số Imei2: 869809032648325, bên trong lắp 02 sim số: 0776397483, 0917149163 và số tiền 1.000.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại cho anh Nguyễn Kiên C 01 điện thoại Sam sung màu trắng đã qua sử dụng có số Imei1: 353002071448046; Imei2: 353003071448044 lắp sim 1: 0353916760; sim 2: 0378705992, và số tiền 300.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội.

Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy màu trắng không có biển kiểm soát, có số khung: TF04-12086664, số máy: JF04E- 2108660 trong thời hạn 01 năm, nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì sung ngân sách nhà nước.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Mai H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, tang vật vụ án, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/3/2021, Nguyễn Thị Mai H có hành vi tàng trữ trái phép 0,146 gam ma túy loại Methamphetamine tại khu vực trước số 31 Nguyễn Trãi, phường KH Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội, với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì Công an kiểm tra bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự của nước CHXHCNVN.

Ma túy là chất gây nghiện, có hại cho sức khỏe con người, ma túy còn là hiểm họa xã hội, bởi từ ma túy có thể dẫn đễn rất nhiều loại tội phạm khác. Chính vì lẽ đó mà nhà nước ta luôn tuyên truyền, vận động tất cả các thành viên trong xã hội hiểu biết về tác hại của ma túy và từ đó để đấu tranh, bài trừ và tránh xa ma túy. Nhà nước cũng đã ban hành những quy chế hết sức nghiêm ngặt để quản lý chặt chẽ các chất ma túy, đồng thời pháp luật quy định những chế tài hết sức nghiêm khắc đối với những hành vi liên quan đến chất ma túy.

Bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức, đã được pháp luật giáo dục nhiều lần, biết được tác hại nguy hiểm của ma túy nhưng vẫn lao vào con đường phạm tội, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án tuy đã được xóa, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với người bán ma túy H, do H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điểu tra làm rõ, nên không xét.

Đối với Nguyễn Kiên C, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Mai H. Tuy nhiên kiểm tra ma túy trong cơ thể của C cho kết quả dương tính; Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP là thỏa đáng, nên không xét.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mai Hvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249- Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249- Bộ luật hình sự.

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:0,146 gam ma túy loại Methamphetamine.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei1 là: 357340082824169; số Imei2: 35734008224177, bên trong lắp sim số: 0356768372; 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu hồng, số Imei1:869809032648317; số Imei2: 869809032648325, bên trong lắp 02 sim số: 0776397483, 0917149163 và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo H, xét thấy không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại Sam sung màu trắng đã qua sử dụng có số Imei1: 353002071448046; Imei2: 353003071448044 lắp sim 1: 0353916760; sim 2: 0378705992, và số tiền 300.000 thu giữ của Nguyễn Kiên C. Xét thấy không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho anh C.

- Đối với 01 xe máy Spacy màu trắng không có biển kiểm soát, có số khung: TF04-12086664, số máy: JF04E- 2108660, là pH tiện sử dụng vào mục đích phạm tội. C khai chiếc xe này là của Nguyễn Thị Mai H, H khai mua chiếc xe này của bà Phạm Thị S (sinh năm 1958, HKTT: Số 1A phường T, quận Đống Đa, Hà Nội). Khi mua xe không có giấy tờ nhưng bà Scó đưa cho bị cáo H Quyết định thi hành án chủ động của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai về việc trả lại chiếc xe máy trên cho bà Svà các giấy tờ cá nhân của bà Snên H tin tưởng mua. Xác minh, bà S theo địa chỉ trên, Công an địa phường cho biết bà S không còn cư trú tại địa chỉ trên và đi đâu không rõ. Quá trình điều tra xác định chủ đăng ký chiếc xe máy trên là bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1963, địa chỉ: 101, tổ 5, Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội). Bà T khai năm 2002 bà T mua và đứng tên chính chủ chiếc xe máy trên. Đến năm 2007, bà T đã bán chiếc xe trên cho người khác nhưng không nhớ bán cho ai. Hiện tại bà T không phải chủ sở hữu và cũng không biết ai là chủ sở hữu chiếc xe máy trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sở hữu của chiếc xe máy trên, nhưng chưa có ai đến nhận. Xét thấy cần đăng trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe máy trên. Sau 01 năm kể từngày đăng tin (15/5/2021) nếu xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì sung Ngân sách nhà nước.

* Về án phí, và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mai H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2. Áp dụng: - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51

- Bộ luật hình sự.

- Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều106; Điều 136, 331, 333- Bộ luật tố tụng hình sự.

- Áp dụng Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử phạt: Nguyễn Thị Mai H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang (28/3/2021).

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thị Mai H, giám định viên Nguyễn Thị Phượng, bên trong có 0,113 gam Methamphetamine (tổng trọng lượng ban đầu là 0,146 gam, đã lấy mẫu giám định 0,033 gam).

3.2. Trả lại cho Nguyễn Kiên C số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Mai H số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) không liên quan đến việc phạm tội, sau khi đã đối trừ khoản phải thi hành án. (Số tiền này hiện đang lưu giữ theo ủy nhiệm chi ngày 09/7/2021 của Công an quận Thanh Xuân cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân theo tài khoản số 3949.9051813.00000 tại Kho bạc Nhà nước Thanh Xuân).

3.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Mai H01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ có số Imei1 là: 357340082824169; số Imei2: 357340082824177, bên trong lắp sim số: 0356768372, và 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu hồng tím đã cũ máy vỡ mặt lưng, bên trong lắp sim 1 số: 0776397483, sim 2 số: 0917149163. Số seri sim 1: 8401200213171304, số seri sim 2: 898402000 10779204866. Số Imei1: 869809032648317; số Imei2: 869809032648325.

3.4. Trả lại cho Nguyễn Kiên C 01 điện thoại Sam sung màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim 1: 0353916760; sim 2: 0378705992. Số seri sim: 8984048000327778723; số seri sim: 8984048000075910109. Số Imei1: 353002071448046; Imei2: 353003071448044.

3.5.Tiếp tục duy trì đăng trên báo An ninh Thủ đô tìm chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy màu trắng không có biển kiểm soát, có số khung: TF04-12086664, số máy: JF04E- 2108660 trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng số báo đầu tiên (15/5/2021), nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì sung ngân sách nhà nước chiếc xe máy trên.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2021 giữa Công an quận Thanh Xuân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).

Án xử công khai sơ thẩm, tuyên có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ