vanban.org

Quyết định 150/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị N và anh Vũ Tuấn A.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: * Về tình cảm: Chị Ngô Thị N và anh Vũ Tuấn A thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị N - Vũ Tuấn A"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị N và anh Vũ Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Số: 150/2019/QĐST-HNGĐ
Móng Cái, ngày 18 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 129/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019, giữa:

* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị N, sinh năm 1979

* Bị đơn: Anh Vũ Tuấn A, sinh năm 1978

Đều trú tại: Tổ 2, khu T, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 10 tháng 7 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 10 tháng 7 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị N và anh Vũ Tuấn A.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

* Về tình cảm: Chị Ngô Thị N và anh Vũ Tuấn A thuận tình ly hôn.

* Về con chung: Chị N và anh A có 03 con chung là: Vũ Thị Quỳnh H, sinh năm 1999, Vũ Mạnh C, sinh ngày 28/3/2001 và Vũ Mạnh Q, sinh ngày 09/11/2010. Chị N và anh A thỏa thuận: Anh A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vũ Mạnh Q cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N và anh A tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với các con chung là: Vũ Thị Quỳnh H, sinh năm 1999, Vũ Mạnh C, sinh ngày 28/3/2001 đều đã thành niên, chị N và anh T Anh đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở; có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

* Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về khoản nợ chung: Không có.

* Về nghĩa vụ chịu án phí: Chị Ngô Thị N tự nguyện chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001628 ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Trả lại chị N số tiền tạm ứng án phí còn lại là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ