- Tranh chấp gì? "Trương Minh Đ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Minh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/QĐ - TA | P, ngày 21 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Thúy
2. Thư ký phiên họp: Ông Thủy Sơn Phương
Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Thông báo về việc hoãn phiên họp số 180/TB - TLHS ngày 07 tháng 02 năm 2024 đối với:
Trương Minh Đ (tên gọi khác: Không)
Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1998
Căn cước công dân số 064098009261 ngày cấp ………., nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Phật giáo
Trình độ văn hóa: 8/12
Nguyên quán: TP, Bình Định
Nơi cư trú: Số 04/38/293 đường T, tổ 06, phường DH, thành phố P, tỉnh Gia Lai
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: Không; tiền sự: 01
Con ông Trương Minh T và bà Phan Thị Duy N
Vắng mặt tại phiên họp
Có sự tham gia của :
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Chương Tần - Chuyên viên - Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Lê Thị Thảo Nhi - Kiểm sát viên
NHẬN THẤY:
Vào ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Nhà nghỉ số 20 đường NTT, tổ 05, phường HP, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Trương Minh Đ bị phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường HP lập Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội số 05/BB – VPHC ngày 12 tháng 01 năm 2024. Trương Minh Đ bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015, loại ma tuý mà Đ sử dụng là ma túy đá với hình thức hút, giai đoạn gần với thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính thì tần suất sử dụng là thường xuyên. Ngày 10 tháng 4 năm 2024, Đ chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang chấp hành biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 152/QĐ - UBND ngày 15 tháng 6 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DH nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Trương Minh Đ với thời hạn từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Áp dụng Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Điều 40 và khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết theo hướng đồng ý đề nghị của cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Trương Minh Đ.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Trương Minh Đ, sinh năm 1998 đang bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 152/QĐ - UBND ngày 15 tháng 6 năm 2022 nhưng bị phát hiện sử dụng ma túy vào ngày 05 tháng 01 năm 2024 thuộc diện xác định tình trạng nghiện ma túy theo điểm d khoản 1 Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Theo Phiếu Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17 tháng 01 năm 2024, y sĩ của Trạm Y tế phường DH, thành phố P, tỉnh Gia Lai xác định Trương Minh Đ nghiện ma túy loại Methamphetamine. Công an phường DH đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 01/BB - VPHC ngày 12 tháng 01 năm 2024. Đây là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.
Trương Minh Đ có nơi cư trú tại tổ 06, phường DH, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DH lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Trương Minh Đ đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 40, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Trương Minh Đ bị áp dụng hình thức quản lý tại gia đình theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 45, Điều 46 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021.
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Nghiện ma túy gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tinh thần của người sử dụng. Đây là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật nên Nhà nước có chính sách quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm việc sử dụng ma túy trái phép. Trương Minh Đ là người đã thành niên, nhận thức đầy đủ nhưng vì lệ thuộc vào ma túy nên đã cố ý sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10 tháng 4 năm 2022, Trương Minh Đ chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa hết thời hạn 02 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 bị phát hiện sử dụng ma túy trái phép, hành vi này đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính “tái phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020. Sau khi bị phát hiện Trương Minh Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020. Trương Minh Đ sử dụng ma túy từ năm 2015, tần suất trong thời gian gần đây là thường xuyên cho thấy tình trạng nghiện ma túy của Đ là rất nghiêm trọng, không thể tự cai nghiện. Qua xem xét hồ sơ, ý kiến của người tham gia phiên họp xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Minh Đ.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào các khoản 5 Điều 2, 6, 7, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Căn cứ vào các Điều 23, 24, 25, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Điều 32 Luật Phòng chống ma túy
Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 và 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Minh Đ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.
Riêng đối với Trương Minh Đ có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết tại UBND xã, phường nơi cư trú.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.
| Nơi nhận: - Trương Minh Đ; - Công an thành phố P; - Phòng LĐ-TB&XH thành phố P; - Ủy ban nhân dân phường DH; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN ĐÃ KÝ VÕ THỊ THANH THÚY |