vanban.org

Quyết định 15/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 09/02/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Trần Thanh S, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: ấp PV, thị trấn CV, huyện PT, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Thanh S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 15/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kiều Nga.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Công Trí.

Ngày 09 tháng 02 năm 2021, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An

Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số

17/2021/TLHS ngày 02/02/2021 đối với:

Trần Thanh S, sinh năm 1988; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký thường trú: ấp PV, thị trấn CV, huyện PT, tỉnh An Giang;

chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: làm thuê;

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Phật

Trình độ văn hóa: 08/12;

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Trần Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị B.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố X; đại diện ủy quyền theo Văn bản ủy

quyền số 17/UQ-PLĐTBXH ngày 28/01/2021.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tham gia phiên họp: Ông

Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 24/12/2020, Trần Thanh S bị Công an phường SN, thành phố X đưa đi

xét nghiệm chất ma túy với kết quả S dương tính chất Morphine. Đồng thời, Công an phường SN, thành phố X lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với S.

Ngày 24/12/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường SN ban hành Quyết

định 549/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh S.

Ngày 05/01/2021, Ủy ban nhân dân phường SN ban hành Đề nghị số 04/ĐN-

UBND đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố X xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S, nhằm giúp đỡ S có cơ hội cai nghiện, học nghề.

Ngày 06/01/2021, Ủy ban nhân dân phường SN ban hành Thông báo số

03C/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S và ấn định thời gian để S đọc, sao chép tài liệu hồ sơ theo quy định S đã nhận thông báo nhưng không có ý kiến.

Phiếu trả lời kết quả tình trạng nghiện ma túy ngày 27/12/2020 của cơ sở điều

trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang xác định: S nghiện ma túy (Morphine)

Theo Thông báo số 13/TB-PTP ngày 27/01/2021, Phòng Tư pháp thành

phố X kết luận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với S bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 28/01/2021, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành

văn bản số 17/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố X áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S, thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố

X: Giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S thời gian tập trung cai nghiện từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Ý kiến của Trần Thanh S thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy

như hồ sơ thể hiện, xin được áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát thành phố X tham gia phiên họp phát

biểu quan điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014 (pháp lệnh số 09).

Căn cứ công văn đề nghị số 17 ngày 28/01/2021 của Phòng Lao động -

Thương binh và Xã hội thành phố X thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố X theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. S

có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 24/12/2020, Tòa án nhân

dân thành phố X thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Trần Thanh S, sinh năm 1990 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, không

có nơi cư trú ổn định nên đề nghị đưa S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều

kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố X chấp nhận đề nghị của Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố X áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh S.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố X

đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

* Về nội dung:

Lời khai nhận của S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp

với kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn; phù hợp với tường trình của S

và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường SN lập ngày 24/12/2020

cùng các tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ đề nghị.

Theo biên bản biên bản xác minh tình trạng cư trú của Trần Thanh S các

ngày 24/12/2020 và ngày 31/12/2020 của Công an phường SN, S có đăng ký hộ

khẩu thường trú tại ấp PV, thị trấn CV, huyện PT, tỉnh An Giang. Đến khoảng

đầu năm 2019 đến nay, S bỏ địa phương đi nên chính quyền địa phương không

xác định được S đi đâu làm gì.

Việc S sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường SN phát hiện và

S không chứng minh được việc thường xuyên sinh sống tại khóm VĐ2, phường

SN, thành phố X, tỉnh An Giang. Từ đó, S được xem là không có nơi cư trú ổn

định.

Xét S đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có

nơi cư trú ổn định. Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố X đề nghị đưa S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định

tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: S có thái độ thành khẩn khai báo là tình

tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bên cạnh đó, xét về nhân thân S có nhân thân không tốt đã từng được đưa đi cai

nghiện nhưng không sửa đổi tiếp tục sử dụng ma túy. Cho nên, có xem xét khi

quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với S.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,

Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Trần Thanh S, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: ấp PV, thị trấn CV, huyện PT, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 24 tháng 12 năm 2020).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố X và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Trần Thanh S là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa

án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố X chủ trì

phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố X đưa Trần Thanh S vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ