- Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S, sinh ngày 01/9/1976.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/QĐ-TA | LT, ngày 30 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Sinh.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trang.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/QĐ - TA ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với:
Họ và tên: N.N.S, Giới tính: Nam.
Sinh ngày 01 tháng 9 năm 1976; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 05/12; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nguyên quán: Tổ dân phố L.C, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố L.C, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Vĩnh
Phúc.
Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố L.C, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tiền án: Không; tiền sự: 01, Ngày 13/12/2019 Tòa án nhân dân huyện LT áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 22 tháng.
Con ông: N.Q.H, sinh năm 1947 và bà N.T.T.N, sinh năm 1951.
N.N.S vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc (Văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 8 năm 2022).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
N.N.S cư trú tại tổ dân phố L.C, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2010. đến nay chưa bỏ được. Ngày 18/02/2022 N.N.S tự nguyện đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc thời gian 06 tháng, tuy nhiên đến ngày 25/6/2022 S đã bỏ trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế thị trấn LT, huyện LT ngày 09/8/2022 đối với N.N.S cho kết quả có nghiện ma túy loại Heroine. Ngày 09/8/2022 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn LT, huyện LT ra thông báo số: 02/TB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S. Ngày 09/8/2022, bà N.T.T.N (là mẹ đẻ N.N.S) xác nhận gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S. Trong bản kiểm điểm và lời khai của S, S khai nhận bản thân nghiện ma túy từ đầu năm 2010, S sử dụng ma túy heroine bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể, một ngày sử dụng một lần trừ thời gian đi chấp hành án phạt tù và thời gian đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Từ khi trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc đến nay S không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân thị trấn LT, không tham gia chương trình uống thuốc Methadone do địa phương tổ chức.
Với hành vi vi phạm nêu trên:
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện LT là cơ quan đề nghị Tòa án nhân dân huyện LT xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa N.N.S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, đại diện của cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án ra quyết định đưa N.N.S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đề nghị áp dụng thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S thời hạn từ 20 (Hai mươi) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT phát biểu quan điểm về tố tụng: Cơ quan đề nghị và Thẩm phán đã làm đúng trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong quá trình lập hồ sơ, thụ lý hồ sơ cũng như trình tự mở phiên họp và xét quyết định. Tại phiên họp người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp đều chấp hành đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S thời hạn từ 20 (Hai mươi) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S thì thấy: Có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh về hành vi vi phạm pháp luật của người bị đề nghị: Về trình tự, thủ tục đúng quy định; thời hạn xử lý vi phạm hành chính cũng được đảm bảo. Cơ quan đề nghị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng đối tượng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính nên được chấp nhận.
Bản thân N.N.S năm 2019 đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 18/02/2022 N.N.S tự nguyện đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc thời gian 06 tháng, đến ngày 25/6/2022 S đã bỏ trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. S bị nghiện chất ma túy từ năm 2010. S nhận thức được việc nghiện ma túy là sai, làm ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân, tiền bạc của gia đình, song chưa lần nào tham gia chương trình uống thuốc Methadone do địa phương tổ chức, S cũng không đến Ủy ban nhân dân thị trấn LT để đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định. Hành vi vi phạm của S gây ảnh hưởng và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình lập hồ sơ, S thành khẩn khai báo, thực sự hối lỗi mong muốn từ bỏ ma túy nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên Tòa án triệu tập phiên họp N.N.S không đến tham gia phiên họp thể hiện việc chấp hành pháp luật của S là không nghiêm. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện LT đề nghị Tòa án nhân dân huyện LT áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa N.N.S vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 (Hai mươi) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng là cần thiết, có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; điểm a khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.N.S, sinh ngày 01/9/1976.
Nơi cư trú: Tổ dân phố L.C, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận quyết định.
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện LT có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện LT phối hợp với Công an huyện LT đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng Lao động - TB & XH huyện LT; - Công an huyện LT; - Viện kiểm sát nhân dân huyện LT; - Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc; - Người bị đề nghị: N.N.S; - Uỷ ban nhân dân thị trấn LT; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Công Sinh |