- Tranh chấp gì? "quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (địa chỉ: Tổ 6, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đối với: T, sinh ngày 25/10/1977; Nơi cư trú: khu 1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng.
- Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/QĐ-TA | Bảo Lâm, ngày 05 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Nông Đức Thọ
Thư ký phiên họp: Bà Hạ Thị Soan
Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/QĐ-TA ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với:
Họ và tên: T
Sinh ngày: 25/10/1977
Số CCCD: 004077006932; Ngày cấp 24/6/2021; Nơi cấp: Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ Công an.
Quê quán: xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng.
Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: khu 1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Trình độ học vấn: 02/12.
Con ông M1, sinh năm 1946; con bà M2 (Đã chết).
Người bị đề nghị T vắng mặt không có lý do chính đáng - đã được tống đạt quyết định mở phiên họp hợp lệ và không có ý kiến gì.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông H – Chuyên viên - Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, có mặt tại phiên họp.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng: Ông N - Kiểm sát viên, có mặt tại phiên họp.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:
T, sinh ngày 25/10/1977, trú tại: khu 1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng tự khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2010. Loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là chích qua đường máu đưa ma túy vào cơ thể, hai ngày sử dụng một lần.
Công an xã thị trấn P, huyện B đã phối hợp với Trung tâm y tế huyện B xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05/10/2024 của Trung tâm y tế huyện B xác định T: “Có nghiện ma túy”. Ngày 06/10/2024 T đã bị lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vi phạm tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (Methanon) dẫn đến bị đưa ra khỏi chương trình điều trị theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Ngày 23/10/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện B đã có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T kèm theo hồ sơ đến Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B.
Ngày 25/10/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B có văn bản số: 566/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
* Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B trình bày ý kiến: T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2010, trước đó T có tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế bắt đầu từ ngày 08/12/2022. Tuy nhiên, ngày 14/01/2024 T tự ý bỏ điều trị không có lý do, ngày 22/01/2024 và ngày 02/10/2024 Công an thị trấn P, huyện B tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T bằng Kít thử chuẩn đoán nhanh MOP Morphine/Heroine FASTEP cho kết quả “Dương tính”. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05/10//2024 của Trung tâm y tế huyện B xác định T: “Có nghiện ma túy”. Do vậy, T thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và bị Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện B lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện B xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng với thời hạn 16 (mười sáu) tháng.
- Người bị đề nghị T: Vắng mặt không có lý do, nên không có ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định; về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, trình tự thủ tục lập hồ sơ đã đúng theo quy định của pháp luật. Nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng với thời hạn 16 (mười sáu) tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp.
Về thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T được lập theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính tại Văn bản hợp nhất số: 20/VBHN-VPQH ngày 29/12/2022 của Văn phòng Quốc hội; Điều 40, Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị T đã đảm bảo theo quy định tại Điều 27 và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã đảm bảo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp, T vắng mặt không có lý do chính đáng (Tòa án đã tống đạt hợp lệ tại biên bản giao nhận Quyết định mở phiên họp nhưng T không có ý kiến gì). Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về nội dung: T là đối tượng sử dụng ma tuý từ năm 2010 đến nay, trước đó T có tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế bắt đầu từ ngày 08/12/2022. Tuy nhiên, ngày 14/01/2024 T tự ý bỏ điều trị không có lý do, ngày 22/01/2024 và ngày 02/10/2024 Công an thị trấn P, huyện Bảo Lâm tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T bằng Kít thử chuẩn đoán nhanh MOP Morphine/Heroine FASTEP cho kết quả “Dương tính”. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05/10//2024 của Trung tâm y tế huyện Bảo Lâm xác định T “Có nghiện ma túy”. Ngày 06/10/2024 T bị lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vi phạm quy định “Tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (Methanon) dẫn đến bị đưa ra khỏi chương trình điều trị” được quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy. Vì vậy, T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Người bị đề nghị T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có hiểu biết pháp luật, nhưng coi thường pháp luật nên cố tình vi phạm. T trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2010.
Xét tính chất mức độ hành vi của T trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T làm ảnh hưởng đến trật tự an T xã hội, có tác động xấu đến mọi mặt của đời sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Do đó, xét thấy cần thiết để T có thời gian tập trung cai nghiện, được tiếp cận với các biện pháp y học nhằm hỗ trợ cai nghiện đạt hiệu quả.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, T đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Tình tiết tăng nặng không có.
Xét tính chất hành vi vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của T xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời hạn 16 (mười sáu) tháng là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3 và các Điều 6, 9, 95, 96, 103, 104 và Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính tại Văn bản hợp nhất số: 20/VBHN-VPQH ngày 29/12/2022 của Văn phòng Quốc hội.
Căn cứ khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Căn cứ vào các Điều 20, 23, 24, 31 và 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ các Điều 41 và 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (địa chỉ: Tổ 6, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đối với: T, sinh ngày 25/10/1977; Nơi cư trú: khu 1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Cao Bằng có trách nhiệm tổ chức thi hành đưa đối tượng T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - Cở sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Bảo Lâm; - Phòng LĐ - TB và XH huyện; - UBND xã, Công an thị trấn P; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng dấu) Nông Đức Thọ |