vanban.org

Quyết định 15/2024/QĐ-TA

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 08/08/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01(một) năm 10 (mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y có quyền kháng nghị, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN Y

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

––––––––––––––––––––––––––––––

–––––––––––––––

Số: 15/2024/QĐ-TA

Y, ngày 08 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Song Lưu.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Việt Anh.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/QĐ-TA ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 18/7/1995; sinh trú quán: tổ dân phố T, thị trấn T.H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 7/12; con bà Nguyễn Thị Th và ông Hoàng Văn V; tiền án: không; tiền sự: 03. Ngày 30/11/2023 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quyết định số 01/QĐ-XPVPHC của Trưởng Công an thị trấn T.H. Ngày 23/12/2023 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quyết định số 03/QĐ-XPVPHC của Trưởng Công an thị trấn T.H. Ngày 22/01/2024 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại thị trấn theo quyết định số 37/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thị trấn T.H; vắng mặt.

Với sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y (theo Giấy ủy quyền ngày 08 tháng 8 năm 2024).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y: Ông Lưu Hải Dương, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Văn T có nơi cư trú ổn định tại tổ dân phố Tảo Phú, thị trấn T.H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và là đối tượng nghiện ma túy loại ma tuý đá từ năm 2018 đến nay. Ngày 07/7/2024, Công an thị trấn T.H có văn bản số 39/GĐN-CATT đề nghị Trạm y tế thị trấn T.H xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Trạm y tế thị trấn T.H tiến hành theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Kết quả, tại Phiếu kết quả ngày 11/7/2024, Trạm y tế thị trấn T.H kết luận: Nguyễn Văn T là người nghiện chất ma túy loại Methamphetamin. Tại Biên bản ghi lời khai, Bản tường trình ngày 11/7/2024 và các biên bản làm việc tiếp theo Nguyễn Văn T xác định có nghiện ma tuý loại Methamphetamin, sử dụng bằng phương thức hít ma túy trực tiếp vào cơ thể, tần suất trung bình một đến hai ngày 01 lần, mỗi lần sử dụng khoảng 200.000 đồng. Khi không có ma tuý bản thân T cảm thấy mệt mỏi, khó chịu và thèm muốn được sử dụng. Bản thân T đã tự cai nghiện ở nhà nhưng không cai nghiện được, kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế thị trấn T.H là khách quan. Sau khi có kết quả tình trạng nghiện ma túy, ngày 11/7/2024, Công an thị trấn T.H đã thông báo cho T biết về việc điều trị Methadon hoặc tham gia các chương trình cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Hết thời hạn nêu trên T đã không đăng ký điều trị Methadon hoặc tham gia các chương trình cai nghiện ma tuý nào. Ngày 20/7/2024, Công an thị trấn T.H làm việc với T, T khai nhận từ ngày nhận được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Cùng ngày Ủy ban nhân dân thị trấn T.H đã lập biên bản vi phạm về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện đối với Nguyễn Văn T. Ngày 25/7/2024, Uỷ ban nhân dân thị trấn T.H ra thông báo về việc lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc đối với T. T được đọc hồ sơ và nhất trí không có ý kiến gì. Đến ngày 29/7/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn T.H có văn bản số 73/ĐN-UBND đề nghị phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T. Ngày 31/7/2024, phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y có văn bản số 14/ĐN-CNBB và chuyển toàn bộ hồ sơ, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T theo thẩm quyền.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T với thời hạn từ 20 tháng đến 22 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đảm bảo đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng, chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T với thời hạn từ 21 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt nên không có ý kiến gì.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử lý vi phạm hành chính: Quá trình làm việc T đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tác hại cho sức khoẻ, phẩm giá, thiệt hại về tài sản của đối tượng và gia đình. Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T theo đề nghị của phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện Y là phù hợp.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01(một) năm 10 (mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y có quyền kháng nghị, phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y có quyền kiến nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này, phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Y phối hợp với Công an huyện Y đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

Cỡ chữ