- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông Nguyễn Quang T yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị Lan H mất tích"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Số: 15/2020/QĐST-VDS | Vũng Tàu, ngày 25 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Trà My.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 133/2020/TLST-VDS ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích , theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2020/QĐST-VDS ngày 18 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1951, địa chỉ: Phòng B0609 Chung cư Phoenix B, khu trung tâm đô thị Chí Linh, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Ông T vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai người yêu cầu trình bày:
Ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị Lan H đăng ký kết hôn năm 1976 Sau khi kết hôn, ông và bà H chung sống hạnh phúc đến năm 2003 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, khó khăn về kinh tế. Tháng 10 năm 2013, ông và bà H bắt đầu sống ly thân, bà H bỏ nhà đi đến tháng 4 năm 2017 thì trở về yêu cầu ông chuyển nhượng nhà đất và chia tiền cho bà H. Sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng nhà đất và chia tiền nói trên, bà H tiếp tục bỏ đi từ tháng 5 năm 2017 đến nay mà không thông báo cho ông, gia đình hay người thân biết việc bà H đang làm gì, ở đâu. Ông và gia đình đã tìm kiếm, liên hệ nhiều nơi nhưng không ai biết tin tức gì của bà H. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị Lan H mất tích để bổ sung hồ sơ khởi kiện ly hôn và ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến tại phiên họp:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý đến khi tiến hành phiên họp Thẩm phán, Thư ký và các đương sự tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông T về việc yêu cầu tuyên bố bà H mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Quang T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị Lan H mất tích nên đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bà Phạm Thị Lan H có hộ khẩu thường trú tại 40/1 Lê Hồng Phong, phường F, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Ông Nguyễn Quang T vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt ông T.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị Lan H có mối quan hệ là vợ chồng, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, ông T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Quang T:
Ông T trình bày: ông và bà H đăng ký kết hôn năm 1976 và thường trú tại địa chỉ 40/1 Lê Hồng Phong, phường F, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Từ tháng 5 năm 2017 đến nay, bà H bỏ đi mà không thông báo cho ông, gia đình hay người thân biết việc bà H đang làm gì, ở đâu. Ông và gia đình đã liên hệ nhiều nơi để tìm kiếm nhưng không ai biết tin tức gì của bà H.
Tại địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đồng thời là nơi cư trú cuối cùng của bà H là phường F, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận bà H bán nhà từ năm 2017, đã đi đâu không rõ.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ban hành Quyết định số 02/2020/QĐ-TA ngày 13-7-2020 về việc thông báo tìm kiếm một người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Phạm Thị Lan H. Thông báo tìm kiếm này đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng là Báo Công lý các số 057 ngày 17-7-2020; số 058 ngày 21-7-2020 và số 059 ngày 24-7-2020; Phát thông báo tại VOV1- Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 14, 15 và ngày 16-7-2020 theo quy định. Đến nay, đã hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, Ủy ban nhân dân phường 4 thành phố Vũng Tàu và người yêu cầu không có tin tức gì của bà H. Như vậy, từ ngày có tin tức cuối cùng của bà H đến nay đã hơn 02 năm; ông T và Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà H làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, việc ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị Lan H mất tích là có cơ sở theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Ông T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà H nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Quang T là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí giải quyết việc dân sự nên được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 371, 372, 388, và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quang T;
Tuyên bố: Bà Phạm Thị Lan H, sinh ngày 25-12-1954; Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi mất tích: 40/1 Lê Hồng Phong, phường 4, thành phố Vũng Tàu, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng mất tích.
2. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Quang T được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Người yêu cầu được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp người yêu cầu vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Vũng Tàu; - Chi cục THADS TP. Vũng Tàu; - Người yêu cầu; - Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Lưu: Tòa DS; hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Trà My |