- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Thị Thu T - Phạm Hồng T"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố anh Phạm Hồng T là người mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/2018/QĐST-VDS | TP. Nam Định, ngày 04 tháng 10 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Anh
Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2018/TLST-VDS ngày 24 tháng 4 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 33/2018/QĐST-VDS ngày 26 tháng 9 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1994; đăng ký hộ khẩu: Số 227 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 69 đường H, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Hồng T, sinh năm 1993; nơi cư trú cuối cùng: Số 227 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1945; nơi cư trú: Số 227 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh N.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và bản tự khai ngày 03-5-2018, người yêu cầu là chị Trần Thị Thu T trình bày: Chị và anh Phạm Hồng T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 03-11-2015 tại UBND phường V, thành phố N. Chị và anh T tổ chức lễ cưới và chung sống từ đầu năm 2015, sau khi sinh con chung mới đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do anhT chơi bời, nợ nần. Cuối tháng 11-2015, anhT đã bỏ đi khỏi nhà, chị không biết anhT đã đi đâu, trước khi đi anhT không nói gì với chị. Từ cuối tháng 11-2015 cho đến nay, chị không biết tin tức gì của anhT, không liên lạc được và không biết địa chỉ hiện nay anhT ở đâu. Sau khi anhT bỏ đi chị đã nhiều lần hỏi thăm gia đình, bạn bè, người quen nhưng không ai có tin tức gì cảu anhT. Tại số nhà 227 đường H, phường V, thành phố N hiện nay ông bà nội của anhT sinh sống, còn chị về ở bên nhà bố mẹ đẻ. Do vậy chị T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anhT mất tích.
Tại bản tự khai ngày 09-5-2018, người làm chứng là ông Phạm Văn P (ông nội của anh Phạm Hồng T) trình bày: Từ bé anh Phạm Hồng T sống cùng ông bà ở số nhà 227 đường H, phường V, thành phố N do bố mẹT ly hôn. Sau khi kết hôn thì vợ chồng anhT, chị T sống cùng vợ chồng ông. Đến tháng 11-2015,T đi khỏi nhà (nói là đi làm ăn xa) nhưng không nói là đi đâu. Từ đó đến nay, gia đình ông không liên lạc được và không có tin tức gì củaT và không biết hiện nayT đang ở đâu. Gia đình ông đã hỏi thăm bạn bè, người quen củaT nhưng không ai biết tin tức gì củaT.
Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 09-5-2018, ông Triệu Ngọc V – Tổ trưởng Tổ dân phố số xx, phường V, thành phố N cung cấp: Anh Phạm Hồng T có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ số nhà 227 đường H, phường V, thành phố N. AnhT kết hôn với chị Trần Thị Thu T và cùng chung sống tại số nhà 227 H với ông bà nội của anhT là ông Phạm Văn P và bà Mai Thị N. Từ tháng 11-2015 anhT đi khỏi nơi cư trú. Từ thời gian đó đến nay địa phương không biết tin tức gì của anhT, không biết địa chỉ cụ thể và không biết hiện nay anhT sinh sống ở đâu.
Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 27-6-2018, bà Trần Thị Thu H – Công chức Tư pháp Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N cung cấp: Anh Phạm Hồng T, sinh năm 1993 có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ số nhà 227 đường H, phường V, thành phố N. Từ tháng 11-2015 đến nay, anh Phạm Hồng T không sinh sống, cư trú tại địa phương và không có mặt tại địa phương. Hiện nay anhT đang ở địa chỉ nào chính quyền địa phương không biết.
Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Phạm Hồng T theo quy định tại các Điều 384, Điều 385, Khoản 1, Khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thông báo tìm kiếm anhT đã được đăng trên báo Công lý ba số liên tiếp 42, 43, 44 ra các ngày 25-5-2018, 30-5-2018, 01-6-2018 và được phát trên đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 29, 30, 31 tháng 5 năm 2018 và được đăng trên cổng Thông tin Điện tử của Tòa án ngày 28-5-2018. Đã hết thời hạn 04 (bốn) tháng từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Phạm Hồng T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên họp có quan điểm: Về thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán và Thư ký đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thu T tuyên bố anh Phạm Hồng T mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định nhận định:
Về nội dung: Chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 03-11-2015 tại UBND phường V, thành phố N. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng ông bà nội anhT là ông Phạm Văn P và bà Mai Thị N tại số nhà 227 đường H, phường V, thành phố N. Khoảng tháng 11-2015, anhT bỏ đi khỏi nơi cư trú. Từ khi bỏ đi đến nay anhT không liên lạc gì với gia đình cũng như chính quyền địa phương. Gia đình anhT không ai có tin tức gì của anhT. Tòa án đã thông báo, nhắn tin tìm kiếm anhT trên các phương tiện thông tin đại chúng và đã hết thời hạn thông báo anhT vẫn không có mặt tại Tòa án, không có tin tức gì của anhT. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T.
Lệ phí giải quyết việc dân sự chị Trần Thị Thu T phải nộp theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 149, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố anh Phạm Hồng T là người mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại biên lai số 0001310 ngày 24-4-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định được khấu trừ.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Chị Trần Thị Thu T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Phạm Hồng T có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày niêm yết quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thành phố Nam Định; - Chi cục THADS thành phố Nam Định; - UBND phường V, TP. N; - Lưu Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Mai Anh |