vanban.org

Quyết định 15/2018/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Minh T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lò Minh T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số:15/2018/QĐ-TA
Đ, ngày 02 tháng 7 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đào Thị Thúy Thành

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Ngày 02 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 10/QĐ - TA ngày 21 tháng 6 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Lò Minh T;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh ngày: 16/9/1994;

Chứng minh nhân dân số: 040402918; Cấp ngày 05/10/2012; Nơi cấp: Công an tỉnh B;

Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12 phổ thông;

Nơi cư trú: Bản Noong Chứn, phường N, thành phố Đ, tỉnh B;

Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Tiền án: Không; Tiền sự: có 03 tiền sự.

Con ông: Lò Văn Đvà bà: Lò Thị C;

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ: Bà Trương Thị Phương Anh - Cán bộ.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ: Ông Vũ Đình Hải - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 08/3/2018 Lò Minh T bị Chủ tịch UBND phường N, thành phố Đ, tỉnh B Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 06B/QĐ-UBND ngày 08/3/2018, thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Lò Minh T đã chấp hành xong biện pháp giáo dụng tại phường N và có giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại phường N. Ngày 11/6/2018 Lò Minh T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và có kết luận của Trạm y tế phường N, thành phố Đ, tỉnh B: Xác định Lò Minh T nghiện chất ma túy. Ngày 11/6/2018 UBND phường N thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Minh T.

* Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến:

Lò Minh T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mặc dù ý thức được tác hại của việc sử dụng ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại phường N nhưng Lò Minh T vẫn không tiến bộ, vẫn còn nghiện ma túy, nên cần có biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Lò Minh T tiếp tục được cai nghiện. Vì vậy, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa Lò Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B có ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thủ tục pháp lý hồ sơ của Lò Minh T đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự. Quá trình thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Lò Minh T là người có đầy đủ năng lực hành chính, có độ tuổi trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường mà vẫn còn nghiện. Đề nghị áp dụng biện pháp đưa Lò Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:

Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Minh T đảm bảo về thời hiệu và trình tự theo quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính,

Lò Minh T là đối tượng nghiện ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường mà vẫn còn nghiện, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Minh T ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn phường N nói riêng và thành phố Đ nói chung, hành vi của Lò Minh T còn tiếp tay cho những đối tượng chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển.

Lò Minh T có 01 tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính và không có tình tiết giảm nhẹ nào. Sau thời gian áp dụng biện pháp giáp dục tại phường vẫn còn nghiện ma túy, nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Lò Minh T có điều kiện cai nghiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 20, 22, 29, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Minh T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Lò Minh T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ, tỉnh B có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Áp dụng khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính Công an thành phố Đ, Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ, có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ