vanban.org

Quyết định 149/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 12/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 12/7/1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và anh Nguyễn Đình T, sinh ngày: 03/5/1986, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện…

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T: Giao con chung Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 12/7/1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và anh Nguyễn Đình T, sinh ngày: 03/5/1986, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện…
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 149/2022/QĐST-HNGĐHà Tĩnh, ngày 12 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Khắc Hoàng - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 262/2022/TLST-HNGĐ ngày 28/11/2022 về việc "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn", theo Quyết định mở phiên họp giải quyết số 262/2022/QĐ-ST ngày 02/12/2022, giữa các đương sự:

- Người yêu cầu:Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 12/7/1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị giải quyết vắng mặt

- Người yêu cầu: Anh Nguyễn Đình T, sinh ngày: 03/5/1986, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Đài L, đề nghị giải quyết vắng mặt

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo nội dung Đơn khởi kiện giải quyết việc ly hôn của chị Nguyễn Thị L và ý kiến của anh Nguyễn Đình T cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc Hôn nhân gia đình có nội dung:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh theo đăng ký số 18, quyển số 01/2011, ngày 28/02/2011. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống hoà thuận, hạnh phúc tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và có 02 con chung. Năm 2013, anh T đi lao động tại Angola. Năm 2016 anh T về Việt Nam được 03 tháng thì tiếp tục đi lao động tại Đài L. Năm 2019, anh Thắng về Việt Nam được 02 tuần thì đi lao động tại Đài L cho đến nay. Từ đó, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, không tin tưởng nhau. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Nguyễn Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, chung nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh Nguyễn Đình T đã gọi điện (ghi hình có âm thanh) trình bày quan điểm liên quan đến nội dung chị Nguyễn Thị L khởi kiện như sau: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nội dung chị Nguyễn Thị L trình bày trong đơn khởi kiện. Quá trình sống chung, vợ chồng không có mâu thuẫn. Tuy nhiên, trong thời gian anh Thắng đi lao động ở nước ngoài, vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng, yêu thương, tôn trọng nhau. Anh Thắng và chị L ly thân từ năm 2019. Đến nay, nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân nhân không đạt được nên anh Thắng đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận vợ chồng thuận tình ly hôn. Về con chung: Vợ chồng thống nhất giao con chung là Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Thắng không có ý kiến. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do công việc, điều kiện đi lại khó khăn, anh Nguyễn Đình T không về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ cụ thể tại Đài L, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, ủy quyền giao nhận tài liệu cho anh trai là Nguyễn Đình Hà, địa chỉ: Thôn Hưng Tiến, xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Tại Biên bản xác minh ngày 29/11/2022, Ủy ban nhân dân xã C, huyện Cẩm Xuyên khẳng định: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh theo đăng ký số 18, quyển số 01/2011, ngày 28/02/2011. Quy trình đăng ký kết hôn được thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền và trình tự, thủ tục. Chính quyền địa phương không có thông tin về nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, chưa hòa giải hôn nhân gia đình lần nào. Anh Nguyễn Đình T, chị Nguyễn Thị L và 02 con chung hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Về nội dung chị Nguyễn Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau và đề nghị Hội đồng giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Căn cứ Điều 149, 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 55, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự; công nhận thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con chung là Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Thẩm phán giải quyết việc Hôn nhân gia đình nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tại Công văn số 23654/QLXNC-P5 ngày 07/11/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an thể hiện “Anh Nguyễn Đình T đã xuất nhập cảnh 05 lần, lần gần đây nhất vào ngày 09/6/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, quá trình làm việc, anh Nguyễn Đình T thông qua gia đình đã trình bày thống nhất với toàn bộ yêu cầu của chị Nguyễn Thị L không tranh chấp. Do công việc, anh Thắng không về Việt Nam để giải quyết việc hôn nhân gia đình nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho anh trai là Nguyễn Đình Hà. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Đình T thông qua người được ủy quyền và chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”.

Chị Nguyễn Thị L có văn bản đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ Điều 205, 207, 397 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 34/2022/TB-TA ngày 28/11/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.

Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại Điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T được xây dựng trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 02 con chung. Mâu thuẫn phát sinh khi anh Thắng đi lao động ở nước ngoài do bất đồng quan điểm, lối sống, không tin tưởng nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2019, đến nay không còn quan tâm, tôn trọng nhau. Nhận thấy thời gian xa cách lâu ngày, tình cảm vợ chồng không được vun đắp, xây dựng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T không còn. Vợ chồng không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị L, anh Thắng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T là đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Thị L có 02 con chung là Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho. Hiện nay, anh Nguyễn Đình T đang lao động tại Đài L, con chung do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Các con phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Chị L khẳng định thu nhập hiện nay của chị đảm bảo để nuôi dưỡng hai con mà không yêu cầu anh Thắng phải cấp dưỡng. Tại đơn nguyện vọng các con đều mong muốn được ở cùng chị L. Vợ chồng đã thống nhất việc giao người trực tiếp nuôi con chung. Vì vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T: Giao con chung Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận người trực tiếp nuôi con chung của các đương sự.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 146, 147, 361, 362, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 12/7/1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và anh Nguyễn Đình T, sinh ngày: 03/5/1986, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Đài L

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình T: Giao con chung Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày: 19/01/2012 và Nguyễn Thị Phương V, sinh ngày: 25/5/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.

Anh Nguyễn Đình T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về lệ phí: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận sự tự nguyện nộp tiền lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng của chị Nguyễn Thị L theo biên lai số 0000411 ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ