vanban.org

Quyết định 1443/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T

Xác định ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm T (mất ngày O/P/Q), Chứng minh nhân dân số: W; nơi thường trú (tạm trú) cuối cùng trước khi chết là: Số Q Cù Lao N, Phường A, Quận D, Thành phố H; nơi chết là: Số nhà E Tổ 38 đường P, Phường U, quận G, Thành phố H là cha ruột của bà Nguyễn Thị Ngọc T. Bà Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1443/2022/QĐST-HNGĐGò Vấp, ngày 09 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc hôn nhân gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Nguyễn Hà Hải

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai để giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số 1150/2022/TLST–HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022, về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”, theo Quyết định mở phiên họp số: 22/2022/QĐST–DS ngày 08 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên họp số: 44/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 tháng 2022, của:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm X; địa chỉ: Số T đường N, Phường U, quận G, Thành phố H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Võ Thị T , sinh năm Y

- Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm Z

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm I

Cùng địa chỉ: Số R đường P, Phường U, quận G, Thành phố H.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 27/7/2022, bản tự khai và giấy cam kết ngày 26/8/2022 bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

Cha bà tên là Nguyễn Ngọc S, sinh năm T (mất ngày O/P/Q) và mẹ bà tên là Võ Thị T , sinh năm Y. Cha mẹ bà có ba người con chung là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm X; Nguyễn Ngọc H, sinh năm Z và Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm I.

Lúc mẹ bà sinh bà, do cha bà đi trốn quận dịch nên mẹ bà phải làm giấy khai sinh cho bà theo họ mẹ là Võ Thị Ngọc T và để trống tên cha. Nay bà yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm T là cha ruột của bà để bà đi cải chính họ và cập nhật tên cha vào giấy khai sinh.

Tại bản tự khai ngày 02/8/2022, giấy cam kết ngày 26/8/2022 bà Võ Thị T trình bày:

Chồng bà tên là Nguyễn Ngọc S, sinh năm T (mất ngày O/P/Q). Bà và ông S có ba người con chung là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm X; Nguyễn Ngọc H, sinh năm Z và Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm I.

Lúc bà sinh bà T, do chồng bà đi trốn quận dịch nên bà phải làm giấy khai sinh cho bà T theo họ bà là Võ Thị Ngọc T và để trống tên cha. Nay bà yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Ngọc S là cha ruột của bà T để bà T đi cải chính họ và cập nhật tên cha vào giấy khai sinh.

Tại bản tự khai ngày 02/8/2022 ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc T là chị ruột của các ông bà. Do cha của các ông bà đi trốn quân dịch nên mẹ phải làm giấy khai sinh cho bà T theo họ mẹ là Võ Thị Ngọc T và để trống tên cha. Nay ông bà cũng yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Ngọc S là cha ruột của bà T để bà T đi cải chính họ và cập nhật tên cha vào giấy khai sinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết, Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn giao các văn bản, thông báo thụ lý, thời hạn chuyền hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát.

+ Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đề nghị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp chấp nhận yêu cầu của bà T ra quyết định xác định ông Nguyễn Ngọc S là cha ruột của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn yêu cầu của bà T, Tòa án xác định đây là việc hôn nhân gia đình “Xác định cha cho con”. Bà T là người yêu cầu đang cư trú tại quận G nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên họp, bà T, bà T, ông H, bà H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên phiên họp vẫn được tiến hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ Sơ yếu lý lịch ngày 10/11/1980 và Sơ yếu lý lịch ngày 25/12/1986 do ông Nguyễn Ngọc S khai trình có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố H. Theo đó, ông S xác nhận bà Nguyễn Thị Ngọc T là con của ông và bà Võ Thị T do trốn quân dịch nên không có khai sinh theo họ cha.

Căn cứ lời khai của bà Võ Thị T xác nhận bà T là con của bà và ông S, do ông S trốn quân dịch nên khi đi khai sinh bà khai sinh cho bà T theo họ mẹ là Võ Thị Ngọc T.

Căn cứ lời khai của ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận bà T là chị ruột của ông H, bà H.

Từ những phân tích trên, Tòa án nhận thấy, mặc dù ông S đã chết và không thể thực hiện việc giám định ADN nhưng lời khai của bà T được bà T, ông H, bà H thừa nhận và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định ông Nguyễn Ngọc S là cha ruột của bà Nguyễn Thị Ngọc T.

Bà T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cải chính họ và cập nhật họ tên cha trên giấy khai sinh theo nội dung quyết định này.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Căn cứ Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 366, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 88, Điều 90, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T

Xác định ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm T (mất ngày O/P/Q), Chứng minh nhân dân số: W; nơi thường trú (tạm trú) cuối cùng trước khi chết là: Số Q Cù Lao N, Phường A, Quận D, Thành phố H; nơi chết là: Số nhà E Tổ 38 đường P, Phường U, quận G, Thành phố H là cha ruột của bà Nguyễn Thị Ngọc T.

Bà Nguyễn Thị Ngọc T được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cải chính họ và cập nhật họ tên cha trên giấy khai sinh theo nội dung quyết định này.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng lệ phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0048962 ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp đủ lệ phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ