vanban.org

Quyết định 140/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 19/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giang Văn H và Nguyễn Đức C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: 3/Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106; 136; 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Văn H và Nguyễn Đức C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giang Văn H và Nguyễn Đức C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƯỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2023/HSST
Ngày: 19/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Lan Hương Các Hội thẩm nhân dân: Ông L Văn Hùng và bà Nguyễn Thị Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hà - Thư ký viên C Tòa án nhân dân huyện Thường Tín - Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín – TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín - TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2023/TLST-HS ngày 09/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với các bị cáo:

1. GIANG VĂN H, sinh năm 1974; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Đội Z, xã N, huyện T, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc Tịch: Việt Nam; Con ông: Giang Văn B và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Vũ Thị Châu G, Con: có 02 con (Lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: không Nhân thân:

+ Bản án số 04/2008/HSST ngày 08/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện T, TP. Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/3/2010 (đã được xóa án tích).

+ Bản án số 115/2014/HSST ngày 23/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện T, TP. Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt ngày 22/12/2016 (đã được xóa án tích)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến nay (Có mặt)

2. NGUYỄN ĐỨC C, sinh năm 1981; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn L, xã P, huyện T, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc Tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức C2 và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ: Bùi Thị H, Con: có 02 con (Lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến nay (Có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn L, sinh năm: 1986; Trú tại: Thôn Hoàng Xá, xã Thống Nhất, huyện T, TP Hà Nội. (Vắng mặt)

2. Bà Vũ Thị Châu G, sinh năm: 1979; Trú tại: Đội Z, xã N, huyện T, TP Hà Nội (

Có mặt)

* Người chứng kiến:

Ông Lê Văn P, sinh năm: 1950; Trú tại: Thôn M, xã L2, huyện T, TP Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 15/8/2023, Giang Văn H đi bộ từ nhà đến đoạn đường đê gần Bến đò Chương Dương thuộc xã Chương Dương, huyện T, TP Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Đến nơi, H gặp một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện nên hỏi “có hàng không?”, ý H hỏi người đàn ông có ma túy bán không) Người đàn ông hiểu ý nên trả lời: “có, lấy bao nhiêu?”. H nói: “lấy 5.000.000 đồng” và đưa tiền cho người đàn ông sau đó người này đưa lại cho H 01 gói giấy bên trong có ma túy Heroine và tặng thêm cho H 01 túi bên trong chứa ma túy đá. H cầm số ma túy đó về cất giấu ở chỗ lỗ thông hơi đệm kê trong thùng Container ở trong vườn nhà H ở thôn L, xã H, huyện T, TP. Hà Nội với mục đích ai hỏi mua thì bán lại kiếm lời.

Khoảng 17 giờ cùng ngày 15/8/2023, Nguyễn Đức C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Y6 - 8523 đi đến vườn của Giang Văn H, ở thôn L, xã H, huyện T, TP. Hà Nội để mua ma tuý về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Gặp H, C hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy Heroine. H đồng ý đi vào chỗ cất gói ma túy mua trước đó dùng tay bẻ 01 mảnh rồi dùng giấy bạc gói lại và gói vào 01 túi nilong cầm ra đưa cho C, C đưa lại cho H 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy C điều khiển xe đi về nhà, lấy một ít ma túy vừa mua được để sử dụng rồi dùng chiếc đục gỗ chia số ma tuý còn lại thành 12 gói ma túy nhỏ bọc bằng giấy ô ly có dòng kẻ, cất trong 01 hộp kim loại màu xanh kích thước (8x3x2)cm, ai hỏi mua thì C bán với giá 200.000 đồng/1 gói.

Đến khoảng 07 giờ 10 phút ngày 16/8/2023, Nguyễn Đức C nhận được điện thoại từ số máy 097.267.4962 của Phạm Văn L gọi đến số điện thoại 0384.115.398 của C hỏi: “Anh đi uống thuốc chưa? Anh mang cho em cái hàng”. C hiểu ý L muốn mua 01 gói ma túy Heroine nên đã đồng ý bán, hẹn giao ma túy tại khu vực hầm chui dân sinh đường liên xã L2 - Lê Lợi thuộc địa phận thôn Đào Xá, xã L2, huyện T TP. Hà Nội. Sau đó, C lấy hộp kim loại đựng ma túy cất tại cạp quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Y6 - 8523 đi đến điểm hẹn và gọi cho L. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, thấy L đang đi bộ về phía mình, C định lấy ma túy ra để giao cho L thì bị Tổ công tác Công an huyện T gồm đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy và Công an xã L2 đang làm nhiệm vụ trên địa bàn xã L2 kiểm tra hành C, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại cạp quần đằng trước bên phải mà Nguyễn Đức C đang mặc 01 hộp kim loại màu xanh diện (8x3x2)cm, bên trong hộp chứa 12 gói giấy nhỏ có dòng kẻ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng, C khai là Heroine; 01 điện thoại Vivo Y02t màu tím, bị vỡ màn hình đã qua sử dụng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0384.115.398; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Y6-8523 đã qua sử dụng; Thu của Phạm Văn L 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0972674962; số tiền 200.000 đồng. Tổ công tác đưa C, L cùng tang vật về Công an xã L2 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó bàn giao C cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 16/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Đức C tại thôn L, xã P, huyện T, TP. Hà Nội. Kết quả thu giữ: 01 cây đục cán bằng gỗ có chiều dài khoảng 25cm, chất liệu làm bằng kim loại gắn vào chuôi gỗ, chiều dài kim loại khoảng 10cm, bản rộng 1cm.

Ngày 16/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp vườn nhà của Giang Văn H tại thôn L, xã H, huyện T, TP. Hà Nội. Kết quả thu giữ:

- 01 túi nilong diện (2x6)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng tại lỗ xông hơi của đệm kê trong trong Container (ký hiệu K1).

- 02 gói bên ngoài đều bọc bằng giấy hoa, bên trong mỗi gói đều chứa các cục bột màu trắng, tại lỗ xông hơi của đệm kê trong Container (ký hiệu K2).

- 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, số imei: 356820557687358, lắp sim số thuê bao: 0878948668 và 01 điện thoại Nokia 130 màu xanh, số serial: 358955056912325, lắp sim số thuê bao: 0384031981 thu giữ trên người Giang Văn H.

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 BKS: 30G - 14348.

Ngày 16/8/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Giang Văn H tại Đội Z, xã N, huyện T, TP. Hà Nội. Kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Ngày 16/8/2023, Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định đối với tang vật thu giữ của của Nguyễn Đức C, Giang Văn H nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 5631 ngày 23/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

* Tang vật thu giữ của Nguyễn Đức C gồm có:

- Chất bột màu trắng bên trong 12 gói giấy đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,646 gam.

- 01 đục cán gỗ lưỡi kim loại có dính ma túy loại Heroin.

* Tang vật thu giữ của Giang Văn H gồm có:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông (ký hiệu K1) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,788 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (ký hiệu K2) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 11,971 gam.

Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKSTT ngày 09 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Giang Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Đức C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giang Văn H; Nguyễn Đức C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Giang Văn H từ 08 (tám) – 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam (16/8/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 30 (ba mươi) – 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam (16/8/2023).

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín bên trong là ma túy đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký xác nhận của đương sự Giang Văn H, Nguyễn Đức C và Giám định viên thu giữ của Nguyễn Đức C;

+ 01 (một) Phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong chứa ma tuý, bên ngoài có chữ ký xác nhận của đương sự Giang Văn H, giám định viên, cán bộ niêm phong;

+ 01 (một) Phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong là ma tuý; bên ngoài có chữ ký xác nhận của đương sự Giang Văn H, giám định viên, cán bộ niêm phong;

+ 01 (một) Đục có cán gỗ gắn lưỡi kim loại đã qua giám định có dính ma túy loại heroin được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký xác nhận niêm phong của Nguyễn Đức C và Giám định viên;

+ 01 (một) Hộp kim loại màu xanh

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn đồng)

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước

+ 01 (một) Điện thoại Vivo Y02t màu tím, bị vỡ màn hình, bên trong có lắp sim số thuê bao 0384.115.398;

+ 01 (một) Điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0972674962;

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Y6-8523, số khung: Y115028, số máy: 1351950.

- Trả lại bị cáo Giang Văn H:

+ 01 (một) Điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao: 0878948668

+ 01 (một) Điện thoại Nokia 130 màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao: 0384031981

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ định tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khẳng định: Khoảng 08 giờ 30 ngày 16/8/2023, tại khu vực cống chui dân sinh đường liên xã L2 - Lê Lợi thuộc địa phận thôn Đào Xá, xã L2, huyện T TP. Hà Nội, Nguyễn Đức C có hành vi mang theo 12 gói ma túy Heroin, tổng khối lượng 0,646 gam để bán cho Phạm Văn L 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng nhưng chưa bán thì bị Tổ công tác Công an huyện T gồm đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã L2 kiểm tra hành C, bắt quả tang và thu giữ tang vật. Quá trình điều tra Nguyễn Đức C khai ngày 15/8/2023, C mua ma túy của Giang Văn H ở thôn L, xã H, huyện T, TP Hà Nội. Ngày 16/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Giang Văn H thu giữ 11,971 gam ma túy Heroine và 1,788 gam ma túy Methamphetamine. Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, do đó hành vi của Giang Văn H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của Nguyễn Đức C đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm các C sách pháp luật về phòng chống ma túy, tác động xấu đến kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đạo đức, lối sống và sức khỏe của người khác, gây bức xúc trong xã hội, ma túy còn là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Vì những tác hại của ma túy nên pháp luật, nhà nước ta kiên quyết loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử lý nghiêm khắc với loại tội này. Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, mặc dù nhận thức được hậu quả xảy ra nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm đến cùng gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự các bị cáo còn có thể bị phạt tiền, tuy nhiên xét các bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, mắc nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

+ 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín bên trong chứa ma túy, bên ngoài có chữ ký của Giang Văn H, Nguyễn Đức C và Giám định viên; 01 (một) Phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong chứa ma tuý, bên ngoài có chữ ký xác nhận của Giang Văn H, giám định viên, cán bộ niêm phong; 01 (một) Phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong là ma tuý, bên ngoài có chữ ký của Giang Văn H, giám định viên, cán bộ niêm phong; 01 (một) Đục có cán gỗ gắn lưỡi kim loại có dính ma túy loại Heroin được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đức C và Giám định viên; 01 (một) Hộp kim loại màu xanh đều là vật chứng của vụ án, tịch thu tiêu huỷ.

+ 01 (một) Điện thoại Vivo Y02t màu tím, bị vỡ màn hình, bên trong có lắp sim số thuê bao 0384.115.398; 01 (một) Điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0972674962 là phương tiện bị cáo C liên lạc với L để mua bán ma tuý; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Y6-8523, số khung: Y115028, số máy: 1351950 bị cáo C sử dụng để mua bán ma tuý là công cụ, phương tiện phạm tội, tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

+ Số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) Phạm Văn L sử dụng để mua ma tuý, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+ Đối với 01 (một) Điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong lắp sim số thuê bao: 0878948668; 01 (một) Điện thoại Nokia 130 màu xanh, lắp sim số thuê bao: 0384031981 xác định Giang Văn H sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội, trả lại bị cáo Giang Văn H là phù hợp pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 BKS: 30G - 143.48. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô là của chị Vũ Thị Châu G, ngày 16/8/2023 H mượn chiếc xe ô tô của chị Giang để đi uống Methadone ở huyện Phú Xuyên, chị Giang không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho chị Vũ Thị Châu G là có căn cứ pháp luật.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ và đối tượng bán ma túy cho Giang Văn H ngày 15/8/2023, H không cung cấp được tên, tuổi địa chỉ cụ thể của đối tượng bán ma túy nên không có cơ sở xác minh.

Đối với Phạm Văn L là người hỏi mua ma túy của Nguyễn Đức C với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp đưa tiền và chưa nhận được ma túy, nhân thân L chưa có tiền án, tiền sự về ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự đối với L là có căn cứ

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giang Văn H và Nguyễn Đức C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt:

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt: Giang Văn H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/8/2023)

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Đức C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/8/2023)

3/Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106; 136; 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín bên trong là ma túy đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký xác nhận của đương sự Giang Văn H, Nguyễn Đức C và Giám định viên thu giữ của Nguyễn Đức C;

+ 01 (một) Phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong chứa ma tuý, bên ngoài có chữ ký xác nhận của đương sự Giang Văn H, giám định viên, cán bộ niêm phong;

+ 01 (một) Phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong là ma tuý; bên ngoài có chữ ký xác nhận của đương sự Giang Văn H, giám định viên, cán bộ niêm phong;

+ 01 (một) Đục có cán gỗ gắn lưỡi kim loại đã qua giám định có dính ma túy loại heroin được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký xác nhận niêm phong của Nguyễn Đức C và Giám định viên;

+ 01 (một) Hộp kim loại màu xanh

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước

+ 01 (một) Điện thoại Vivo Y02t màu tím, bị vỡ màn hình, bên trong có lắp sim số thuê bao 0384.115.398;

+ 01 (một) Điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0972674962;

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Y6-8523, số khung: Y115028, số máy: 1351950.

- Trả lại bị cáo Giang Văn H:

+ 01 (một) Điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao: 0878948668

+ 01 (một) Điện thoại Nokia 130 màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao: 0384031981

(Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/11/2023)

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn đồng)

(Hiện đang lưu giữ tại kho bạc Nhà nước huyện T, uỷ nhiệm chi ngày 24/11/2023)

4/ Về án phí: Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Bị cáo Giang Văn H và Nguyễn Đức C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ