- Tranh chấp gì? "Phạm Văn N - Áp dụng biên pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N, sinh ngày 11/4/1993.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều; Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/QĐ-TA | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trường Phúc.
Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Phòng họp trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần: Phòng trực tuyến Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 03 tháng 02 năm 2026, đối với:
Họ và tên: Phạm Văn N, Giới tính: nam.
Sinh ngày: 11/4/1993.
Số CMND/CCCD: xxxxxxxxxxxx.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 9/12.
Nơi thường trú: tổ B, ấp B, xã C, tỉnh An Giang;
Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: không.
Tiền án: không.
Tiền sự: không. Con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1969 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1973.
Phạm Văn N (Tham gia tại phòng trực tuyến Cơ sở cai nghiệm ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh) có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Chánh Tín – Cán bộ Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Tham gia tại Phòng họp trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên. (Tham gia tại Phòng họp trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Người tham gia khác: Ông Mai Xuân T3 (Tham gia tại phòng trực tuyến Cơ sở cai nghiệm ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh).
NHẬN THẤY:
Theo kết quả xét nghiệm của Trạm y tế phường Tân Khánh thực hiện ngày 25/01/2026 đối với người bị đề nghị Phạm Văn N kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine (MET). Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai, người bị đề nghị Phạm Văn N thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2024 và lần sử dụng gần nhất là ngày 19/01/2026, đối tượng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.
Ngày 25 tháng 01 năm 2025, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 58/TB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N. Ngày 25/01/2026, Công an phường T ban hành Văn bản số 58/ĐN gửi Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Phạm Văn N tại Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên họp, đại diện Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N tại Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 -Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túyluật xử lý vi phạm hành chínhcai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N với mức đề nghị từ 22 đến 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
- Về thẩm quyền: Hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N do Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Về thời hiệu: Phạm Văn N bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày 25/01/2026; đến ngày 09/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp xem xét áp dụng xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Về nội dung: Căn cứ biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai, bản tường trình cùng ngày 25/01/2026 của Phạm Văn N, biên bản xét nghiệm, phiếu trả lời kết quả, phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế phường T có đủ cơ sở kết luận người bị đề nghị Phạm Văn N là người nghiện ma túy, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phạm Văn N không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy và điểm a khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn N đã vi phạm khoản 5 Điều 5 của Luật Phòng chống ma túy và khoản 1, khoản 16 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Hành vi này vi phạm quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân Phạm Văn N là người đã thành niên biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng và không tự cai nghiện được nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Không có.
Từ những phân tích trên, xét thấy việc đưa người bị đề nghị Phạm Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, để người bị đề nghị Phạm Văn N được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 95, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính nên có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 2, 6, 95, 96, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều: 5, 28, 32 Luật Phòng chống ma túyĐiều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N, sinh ngày 11/4/1993.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (Một) năm 10 (mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Ông Phạm Văn N có quyền khiếu nại, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma túy đưa Phạm Văn N vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 04, Thành phố Hồ Chí Minh.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an phường Tân Khánh; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 04, Thành phố Hồ Chí Minh; - Ông Phạm Văn N; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Võ Thị Hồng Thêm |