- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/QĐ-TA | U Minh, ngày 14 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý
2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Lụa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/2019/QĐ-TA ngày 02 tháng 8 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam. Sinh năm: 1991; Chứng minh nhân dân số: 381570272; Nơi cấp: Công an tỉnh Cà Mau; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nguyên quán: Xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; Hộ khẩu thường trú: Ấp 15, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không ổn định; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà: Nguyễn Thị G.
Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Ông Đinh Cộng H – Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện U, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền số 24/TB-LĐTBXH ngày 14/8/2019).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Lê Quốc Nin - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 26/6/2019, Công an xã K nhận được tin báo Nguyễn Văn T sử dụng trái phép chất ma túy. Qua làm việc, Nguyễn Văn T thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện U thể hiện Nguyễn Văn T nghiện ma túy tổng hợp. Quá trình xác minh đã xác định đối tượng Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại ấp 15, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nhưng thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định.
Tại Thông báo số 47/TB-PTP ngày 26/7/2019 của Phòng Tư pháp huyện U về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T kết luận hồ sơ đảm bảo tính pháp lý theo quy định pháp luật.
Tại Công văn số 84/LĐTBXH ngày 30/7/2019, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện U đề nghị Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Tại phiên họp, ông Đinh Cộng H đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U đề nghị: Do Nguyễn Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện nay không có chỗ ở ổn định, đề nghị Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét, áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.
Tại phiên họp, Nguyễn Văn T thừa nhận có hành vi sử dụng ma túy và bị công an xã K lập biên bản vào ngày 26/6/2019 và tự nhận thức được hành vi sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nguyễn Văn T không thừa nhận nội dung tại biên bản ghi lời khai ngày 26/6/2019 về việc T không thường xuyên ở địa phương mà đi làm nhiều nơi là do T tự khai. T cho rằng bản thân có nơi cư trú rõ ràng tại ấp 15, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; mới vi phạm lần đầu, không có tiền án, tiền sự nên không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà thuộc đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ. Đối với đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U, Nguyễn Văn T không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu ý kiến: Về trình tự thủ tục Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Điều 95, 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, do đó Viện kiểm sát thống nhất với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đối tượng bị đề nghị tại phiên họp,
XÉT THẤY:
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ngày 26/6/2019, Công an xã K, huyện U phát hiện Nguyễn Văn T sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T vẫn còn.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 8 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và các khoản 2, 3 Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, Nguyễn Văn T không thừa nhận nội dung “không thường xuyên ở địa phương mà đi làm nhiều nơi” tại Biên bản ghi lời khai là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, T đã tự ký tên vào Biên bản ghi lời khai; quá trình lập hồ sơ T đã được đọc hồ sơ đề nghị theo quy định và không có ý kiến; Phòng Tư pháp huyện U cũng đã có Thông báo số 47/TB-PTP ngày 26/7/2019 kết luận hồ sơ đảm bảo tính pháp lý theo quy định pháp luật. Tại phiên họp, Nguyễn Văn T đã xác định thường xuyên đi biển, mỗi lần đi khoảng 20 ngày và nhiều lần đi Sài Gòn, các lần đi đều không trình báo chính quyền địa phương.
Từ những phân tích trên có cơ sở xác định Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại ấp 15, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nhưng thực tế T sống lang thang không có nơi cư trú ổn định.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/6/2019, Nguyễn Văn T thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018, hiện nay đã đến mức nghiện. Lời thừa nhận của T phù hợp với Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện U và các tài liệu khác có tại hồ sơ. Tại thời điểm sử dụng ma túy, Thao đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế của người sử dụng nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã tác động và gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho T được cai nghiện tốt, phục hồi sức khỏe, đảm bảo điều kiện để tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, T thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng tại phiên họp không thừa nhận việc T không có nơi cư trú ổn định nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính. Đối với tình tiết không có tiền án, tiền sự không được quy định là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Như đã phân tích trên, xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 96 và điểm b khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 26 tháng 6 năm 2019.
3. Người bị đề nghị Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Công an huyện U Minh; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau; - Phòng LĐ-TB và XH huyện U; - UBND xã K, huyện U; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Ý |