vanban.org

Quyết định 14/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (Sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ xét Nguyễn Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (Sửa đổi, bổ sung năm 2020);
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14 /QĐ-TAPhú Lương, ngày 05 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Tạ Xuân Trà.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam, sinh ngày: 24/11/1984. Số căn cước công dân số 019084004933 cấp ngày 12/7/2021, Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính và trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 07/12.

Nơi thường trú: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Nguyễn Thanh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Vợ: Ma Thị L (đã ly hôn năm 2017); có 01 con sinh năm 2009

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đỗ Thanh Bình, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Phú Lương.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương: Ông Triệu Đức Hoàng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T và bản tường trình của T cho thấy: T là người nghiện ma túy, T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2016, hình thức sử dụng là chích, loại ma túy Heroine. T đã cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở điều trị tự nguyện và công tác xã hội huyện Phú Lương thời gian là 06 tháng từ ngày 01/5/2023 đến ngày 01/11/2023. Ngày 01/11/2023, T hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện và chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 16/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 24/01/2024, T sử dụng ma túy loại Heroine, Công an xã Yên Trạch phối hợp với Trạm y tế xã Yên Trạch tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T thông qua hình thức test mẫu nước tiểu, kết quả T dương tính với ma túy Heroine. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã Yên Trạch ngày 29/01/2024 xác định T có nghiện ma túy Heroine (nhóm Morphine).

Ngày 02/02/2024, Ủy ban nhân dân xã Yên Trạch lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với T. Đồng thời, Ủy ban nhân dân xã Yên Trạch ra Quyết định dừng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Lương giữ nguyên quan điểm tại văn bản số 97/ĐN-CNBB ngày 21/02/2024, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T với thời gian từ 18 đến 22 tháng.

Tại phiên họp, người bị đề nghị là anh Nguyễn Thanh T có ý kiến: Bản thân đã nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình, nhất trí với nội dung đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Lương. Tuy nhiên, mong muốn Tòa án xem xét quyết định thời gian cai nghiện bắt buộc là 18 tháng để sau khi cai nghiện xong anh T sớm tìm việc làm nuôi gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương có ý kiến: Việc thiết lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Phú Lương về việc đưa Nguyễn Thanh T vào cai nghiện bắt là đúng quy định, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng; Việc chấp hành pháp luật của Toà án kể từ khi thụ lý hồ sơ giải quyết đến khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đảm bảo đúng luật, đúng thời gian cũng như thành phần tham gia phiên họp và trình tự tố tụng theo hướng dẫn tại Pháp lệnh trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án. Sau khi xem xét hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp, thấy rằng:

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Lần cuối cùng Nguyễn Thanh T sử dụng ma túy là ngày 24/01/2024. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được thực hiện trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ được thiết lập đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về hành vi của người bị đề nghị: Nguyễn Thanh T là đối tượng nghiện ma túy, đã cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở điều trị tự nguyện và công tác xã hội huyện Phú Lương thời gian là 06 tháng từ ngày 01/5/2023 đến ngày 01/11/2023. Sau khi hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện và chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 16/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, T vẫn không từ bỏ được ma túy mà còn tái nghiện. Ngày gần nhất T sử dụng ma túy là ngày 24/01/2024, Công an xã Yên Trạch phối hợp với Trạm y tế xã Yên Trạch tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T, kết quả T dương tính với ma túy Heroine. Ngày 29/01/2024, Công an xã Yên Trạch đề nghị Trạm y tế xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã Yên Trạch ngày 29/01/2024 xác định T có nghiện ma túy Heroine (nhóm Morphine).

Ngày 02/02/2024, Ủy ban nhân dân xã Yên Trạch lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với T. Đồng thời ra Quyết định dừng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Nguyễn Thanh T và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định Nguyễn Thanh T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Nội dung các điều luật quy định:

“Điều 96. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cái nghiện bắt buộc theo quy định của Luật phòng, chống ma túy.”

Điều 32 Luật phòng, chống ma túy quy định:

“Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

1……………………………………………………...

4. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện.”

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thanh T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và có tác hại đối với sức khỏe con nngười nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T một thời gian nhất định.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết, Nguyễn Thanh T thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình nên T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020).

Tình tiết tăng nặng: Không.

Xét đề nghị của phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Phú Lương là phù hợp, nhằm tạo điều kiện cho T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, lao động và học nghề, giúp T có điều kiện tái hoà nhập cộng đồng, xây dựng cuộc sống lành mạnh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật:

- Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (Sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 1 Điều 3; các Điều: 20, 21, 23, 24, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 quy định về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai;

- Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.

2. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T.

3. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đi chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

6. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Phú Lương phối hợp với Công an huyện Phú Lương đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ