- Tranh chấp gì? "áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Đoàn.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đỗ Cao Cường.
Ny 06 tháng 4 năm 2018, tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động Xã hội tỉnh Tây Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/QĐ-TA Ny 04 tháng 4 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Trần Văn N. Giới tính: Nam.
Sinh năm 1993.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không có.
Trình độ văn hóa: 6/12.
Nguyên quán: Thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Hộ khẩu thường trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định.
Tiền án: Có 01 tiền án.
Tiền sự: Có 01 tiền sự.
Con ông: Trần Nguyễn N và bà Nguyễn Thị X.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn Bức, chức vụ: Trưởng phòng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Văn Nhặt – chức vụ: Chuyên viên (Văn bản ủy quyền số: 15/GUQ-LĐTBXH Ny 03 tháng 4 năm 2018).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo công văn số: 15/CV-LĐTBXH Ny 03 tháng 4 năm 2018 của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B, về việc: “Đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N” do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Ny 08 tháng 01 năm 2018, Đội cảnh sát điều tra tội phạm Ma túy Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã A và Trạm y tế xã A lập biên bản xác định Trần Văn N dương tính với chất ma túy.
Căn cứ biên bản cuộc họp ngày 08 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban nhân dân xã A về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa Trần Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 18 đến 24 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Qua thẩm tra xem xét hồ sơ Trần Văn N có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Bản thân đi làm mướn và cư ngụ ở nhiều nơi trên địa bàn huyện B, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, thường xuyên không có mặt tại địa phương. Có căn cứ là người không có nơi cư trú ổn định được quy định tại Khoản 2, Điều 9 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP Ny 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ về chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Ny 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP Ny 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.
Ủy ban nhân dân xã A đã ra quyết định số: 87/QĐ-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2018 về việc đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
Ủy ban nhân dân xã A đã ra quyết định số: 88/QĐ-UBND Ny 08 tháng 01 năm 2018 về việc giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục theo quy định.
Từ những căn cứ trên, Chủ tịch - Ủy ban nhân dân xã A đã lập hồ sơ gửi phòng Tư pháp, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B, đề nghị Tòa án nhân dân huyện B xem xét, quyết định đưa Trần Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh trong thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp những người tham gia có ý kiến như sau:
- Người đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B, do ông Cao Văn Nhặt trình bày: Giữ nguyên đề nghị đưa anh Trần Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy trong thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.
- Người bị đề nghị là anh Trần Văn N trình bày ý kiến: Anh N thừa nhận có nghiện ma tuý và đã sử dụng trái phép chất ma tuý như trình bày của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện B là đúng. Bản thân có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh nhưng thường cư ngụ ở nhiều nơi trên địa bàn huyện B, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, thường xuyên không có mặt tại địa phương. Vì vậy, chấp nhận theo đề nghị của cơ quan đề nghị và xin được hưởng mức thấp nhất.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính:
+ Việc thụ lý, xem xét giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, của những người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 3, 7 đến điều 14, Điều 16, 17 và Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân huyện B.
+ Về quan điểm của Viện kiểm sát: Xét thấy có đủ căn cứ áp dụng các Điều 95, 96, Khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu những tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra, công bố tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia phiên họp, nhận thấy:
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị được lập đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP Ny 30 tháng 12 năm 2013; Nghị định 136/2016/NĐ-CP Ny 09 tháng 9 năm 2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP Ny 30 tháng 12 năm 2013; Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và còn thời hiệu để xử lý theo quy định tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP nên việc họp xét hồ sơ là đúng theo quy định.
Về nội dung họp xét: Trong hồ sơ cũng như lời trình bày của những người tham gia phiên họp thể hiện Trần Văn N là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2016. Bản thân không có nơi cư trú ổn định, thường cư ngụ ở nhiều nơi trên địa bàn huyện B, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, thường xuyên không có mặt tại địa phương. Do đó, căn cứ Khoản 2 Điều 9 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP Ny 30/12/2013 lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N, theo trường hợp không có nơi cư trú ổn định là đúng theo pháp luật.
Xét thấy người nghiện ma túy sẽ dễ bị thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, thậm chí là giết người… Do đó để đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương. Đồng thời, tạo điều kiện cho anh N sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B đề nghị đưa anh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết và đúng theo quy định của pháp luật.
Khi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định tại Điều 9, 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính để ấn định thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành thật hối lỗi.
Tình tiết tăng nặng: Tái phạm.
Căn cứ vào các Điều 95, 96, Khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy là 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh) là ngày 08 tháng 01 năm 2018.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Trần Văn N có quyền khiếu nại quyết định, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngàylàm việc, kể từ ngày Toà án công bố quyết định này (ngày 06 tháng 4 năm 2018).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện B, Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện B; - Công an huyện B; - Phòng LĐTBXH huyện B; - Cơ sở cai nghiện ma túy; - UBND xã A; - Trần Văn N; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN NGUYỄN VĂN ĐOÀN |