- Tranh chấp gì? "ưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T."
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG Số: 14/QĐ-TA | Bắc Quang, ngày 14 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị N.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 13/QĐ-TA ngày 10/6/2024 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh năm 1974; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; căn cước công dân số 002074000934, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/4/2021; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Con ông Nguyễn Khắc K, sinh năm 1941 và bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1940. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Hiện nay được giao cho Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần
- Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang quản lý.
Vắng mặt tại phiên họp - Có đơn xin vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đặng Thị P - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Hà Giang.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
3. Những người khác: Không.
NHẬN THẤY
Ngày 14/4/2023 Công an thị trấn V phát hiện Nguyễn Đức T, sinh năm 1974; trú tại: Tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy tại tổ A, thị trấn V, huyện B, Công an thị trấn V đã mời Nguyễn Đức T về Công an thị trấn V để làm việc, quá trình xét nghiệm ma túy nhanh bằng nước tiểu, cho kết quả Nguyễn Đức T dương tính với ma túy, loại ma túy Heroine. Tại biên bản ghi lời khai ông Nguyễn Đức T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy nên có nhu cầu sử dụng ma túy, T có nói chuyện với một số con nghiện thì nghe những người này nói chuyện tại khu vực bãi tha ma gần khu vực Bệnh viện đa khoa huyện L, tỉnh Yên Bái có một nam thanh niên khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,65m dáng người gầy hay bán ma túy H nhưng T không nhớ cụ thể là ai nói nên chiều ngày 12 tháng 4 năm 2024, T một mình đi đến khu vực bãi tha ma gần Bệnh viện đa khoa huyện L tìm mua ma túy để sử dụng, khoảng 16 giờ ngày 12/4/2024 T đến đó và gặp người đàn ông như nêu trên, T hỏi “chú có đồ không để lại cho anh hai trăm”, người này trả lời có, T đưa cho người này tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm ngìn đồng) người này cầm lấy và đưa lại cho T một gói giấy màu trắng bên trong có ma túy loại Heroine, T cầm ma túy mang về nhà khi đi đến dốc Một Tập thuộc tổ A, thị trấn V thì sử dụng. T thừa nhận có sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2008, loại ma túy T thường sử dụng là loại ma túy H1, cách thức sử dụng là pha ma túy vào nước cất novocain rồi dùng bơm kim tiêm tiêm thẳng vào tĩnh mạch, T sử dụng ma túy một mình, không có ai khác sử dụng cùng T. Ngày 14/4/2024 Công an thị trấn V, huyện B đề nghị Trạm y tế thị trấn V xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Đức T, ngày 17/4/2024 Trạm y tế thị trấn V đã xác định Nguyễn Đức T nghiện ma túy heroin, T từ chối đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, sau đó Công an thị trấn V lập biên bản vi phạm về không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nguyễn Đức T. Gia đình không đồng ý quản lý trong thời gian cai nghiện, Chủ tịch UBND thị trấn V lập hồ sơ đối với Nguyễn Đức T và tạm giao Nguyễn Đức T cho Cơ sở chăm sóc phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang. Tại văn bản số 388/ĐN-CNBB, ngày 17/5/2024 của UBND thị trấn V đề nghị Phòng L áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hiện nay Nguyễn Đức T được giao cho Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, ngày 06/6/2024 Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện B có văn bản số: 69/ĐN-LĐTBXH đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở chăm sóc và Phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang đối với Nguyễn Đức T và đã chuyển toàn bộ hồ sơ tới Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang.
- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh xã hội huyện B: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T với thời hạn là 18 đến 24 tháng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Kiểm sát viên tham gia phiên họp đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đề nghị áp dụng Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B đưa Nguyễn Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.
- Người bị đề nghị ông Nguyễn Đức T, vắng mặt tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. (Có đơn xin vắng mặt).
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là ông Nguyễn Đức T được Ủy ban nhân dân thị trấn V lập đầy đủ theo quy định của pháp luật. Hồ sơ đã được Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B kiểm tra và có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Đức T.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang và lời trình bầy của người bị đề nghị cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ông Nguyễn Đức T là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, nhận thức được việc nghiện ma túy của mình là ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và tình hình trật tự an toàn xã hội nhưng không từ bỏ được ma túy. Nguyễn Đức T từ chối cai nghiện ma túy tại gia đình và bà Nguyễn Thị H2 là vợ của ông Nguyễn Đức T có đơn từ chối hỗ trợ cai nghiện tại gia đình và không nhận trông coi ông T trong thời gian lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó Nguyễn Đức T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Do đó cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Ông Nguyễn Đức T không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc ông T “tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”, phối hợp với các cơ quan tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó ông T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Hành vi vi phạm của Nguyễn Đức T đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Xét thấy đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang là có căn cứ nên được chấp nhận. Do vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T với thời gian cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng để đảm bảo cho Nguyễn Đức T cắt được cơn nghiện, sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9; các Điều 95, 96; khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở Chăm sóc và Phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang, địa chỉ cơ sở: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này. Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện B có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B kết hợp với Công an huyện B thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - Phòng LĐ-TBXH huyện Bắc Quang; - VKSND huyện Bắc Quang; - Công an thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang; - UBND thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang; - Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Nhung |