vanban.org

Quyết định 14/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D: Tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích.

Chị Nguyễn Thị D được khôi phục lại các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản theo quy định của pháp luật. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 000675… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu hủy bỏ tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D: Tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 70 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2022/QĐST-DSQuận Ngô Quyền, ngày 07 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Bích Phượng

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 45/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 344/2022/QĐST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2022.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D; nơi ĐKHKTT: Số 115D/5/246A đường Đ, phường C, quận N, thành phố H; nơi tạm trú: Số 571/11 khu phố 4, phường A, thành phố B, tỉnh Đ; có mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Nh; nơi cư trú: Số 115D/5/246A đường Đ, phường C, quận N, thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu chị Nguyễn Thị D trình bày:

Năm 1997, chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn Nh, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/10/1997, tại Uỷ ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống chị và anh Nh có hai con chung là Nguyễn Tuấn Th và Nguyễn Tuấn A. Đến năm 2018, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị D bỏ nhà đi, khi đi chị không thông báo cho gia đình và anh Nh biết. Nên anh Nh đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích.

Sau đó, anh Nguyễn Văn Nh đã làm đơn đến Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xin ly hôn và Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã xử cho anh Nguyễn Văn Nh được ly hôn với chị Nguyễn Thị D.

Đến tháng 6 năm 2022, chị D về địa phương làm căn cước công dân, thì được biết thông tin anh Nguyễn Văn Nh đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố chị D mất tích. Hiện chị D đang sinh sống tại số 571/11 khu phố 4, phường A, thành phố B, tỉnh Đ. Vì vậy, chị Nguyễn Thị D đề nghị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với chị Nguyễn Thị D.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Nh trình bày:

Về thời gian kết hôn cũng như quá trình chung sống đúng như chị Nguyễn Thị D trình bày. Do mâu thuẫn vợ chồng nên đến năm 2018, chị D bỏ nhà đi không thông báo cho gia đình và anh Nh biết. Anh Nh và gia đình đã tìm kiếm chị D khắp nơi nhưng không có kết quả. Đến ngày 06/11/2020, anh đã có đơn gửi đến Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích.Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích. Sau khi Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích, anh đã có đơn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị D và Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã xử cho anh Nguyễn Văn Nh được ly hôn với chị Nguyễn Thị D. Nay, chị Nguyễn Thị D trở về yêu cầu hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, anh đồng ý và không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp:

Chị Nguyễn Thị D, anh Nguyễn Văn Nh giữ nguyên quan điểm như tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 70 của Bộ luật Dân sự; các điều 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372 và Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D về việc đề nghị Tòa án hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị D được khôi phục lại các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản theo quy định của pháp luật; về lệ phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết việc dân sự:

Đây là quan hệ pháp luật về yêu cầu tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị D. Người yêu cầu chị Nguyễn Thị D; nơi ĐKHKTT: Số 115D/5/246A đường Đ, phường C, quận N, thành phố H; nơi tạm trú: Số 571/11 khu phố 4, phường A, thành phố B, tỉnh Đ nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về nội dung:

Năm 1997, chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn Nh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 15/10/1997, tại Uỷ ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống chị và anh Nh có hai con chung là Nguyễn Tuấn Th và Nguyễn Tuấn A. Đến năm 2018, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị D bỏ nhà đi, khi đi không thông báo cho gia đình và anh Nh biết, nên anh Nh đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố chị D mất tích. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích. Sau đó, anh Nh đã làm đơn đến Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xin ly hôn và Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã xử cho anh Nguyễn Văn Nh được ly hôn với chị Nguyễn Thị D. Hiện chị D đang sinh sống tại số 571/11 khu phố 4, phường A, thành phố B, tỉnh Đ. Đến tháng 6 năm 2022, chị D về địa phương làm căn cước công dân, thì chị mới được biết thông tin anh Nguyễn Văn Nh đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố chị D mất tích. Nay, chị D đề nghị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với chị Nguyễn Thị D.

Xét thấy, Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích. Nay chị Nguyễn Thị D đã trở về yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích là có căn cứ, theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Dân sự. Nên được Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu hủy bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị D.

Việc anh Nguyễn Văn Nh đã ly hôn với chị Nguyễn Thị D. Mặc dù chị Nguyễn Thị D bị tuyên bố mất tích trở về thì quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật theo căn cứ tại khoản 3 Điều 70 của Bộ luật Dân sự.

Chị Nguyễn Thị D được khôi phục lại các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 70 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372 và Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D: Tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích.

- Chị Nguyễn Thị D được khôi phục lại các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản theo quy định của pháp luật.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006757 ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Chị Nguyễn Thị D, anh Nguyễn Văn Nh được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ