- Tranh chấp gì? "quyet dinh ap dung xu ly hanh chinh le van tuyen"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh) đối với Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Luật Phòng, chống ma túy; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------- Số: 14/2022/QĐ- XLHC | Bắc Ninh, ngày 15 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:
1. Thẩm phán- Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu H.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hạp Thị Thu T.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số: 14/2022/TLHS ngày 31/8/2022, theo Quyết định mở phiên họp số: 13/2022/QĐ- TA, ngày 06/9/2022 đối với:
§èi víi: Lê Văn T, sinh năm 1968;
HKTT và chỗ ở: Khu Ấ, phường H, thành phố B, tỉnh B.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch; Việt Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Tự do.
Bố: Lê Văn N, đã chết.
Mẹ: Nguyễn Thị H, đã chết.
Cùng trú tại: Khu Ấ, phường H, thành phố B, tỉnh B.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số: 86/QĐ-UBND, ngày 09/6/2022 của Chủ tịch UBND phường H ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 09/6/2022 đến ngày 09/11/2022.
Nhân thân: - Bản án số 69/HSST/2008/HSST, ngày 30/7/2008, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh B xử phạt 26 tháng tù về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy''.
- Bản án số 25/HSST/2011/HSST, ngày 21/11/2011, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B xử phạt 36 tháng tù về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy''.
Ngày 08/4/2015 Công an thành phố B đưa vào diện đối tượng sưu tra.
Lê Văn T vắng mặt lần thứ hai tại phiên họp không có lý do.
Phiên họp còn có sự tham gia của:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh: Ông Nguyễn Văn H- Kiểm sát viên (có mặt).
2. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh xã hội thành phố B do ông Phạm Quốc C- Chức vụ: Phó trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố B được ủy quyền đại diện theo văn bản ủy quyền số 06/GUQ- LĐTBXH ngày 26/01/2021 (có mặt).
NHẬN THẤY:
Lê văn T là đối tượng nghiện chất ma túy, ngày 09/6/2022, Chủ tịch UBND phường H ra Quyết định số: 86/QĐ-UBND quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 09/6/2022 đến ngày 09/11/2022.
Trong thời gian chấp hành cai nghiện tự nguyện tại gia đình, vào khoảng 10 giờ 10 phút, ngày 05/8/2022 Công an phường H, thành phố B kiểm tra phát hiện tại nhà của Lê Văn T; địa chỉ: Khu Ấ, phường H, thành phố B, tỉnh B, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện và bị Công an phường H, thành phố B lập biên bản, T đã khai nhận bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay, vẫn thường xuyên sử dụng ma túy tổng hợp Methaphetamine hình thức sử dụng hút qua ống hút lọc qua nước trong chai nhựa và Tuyến khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà và bị Công an phường H kiểm tra phát hiện, lập biên bản.
Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố B phát biểu quan điểm: Căn cứ Mục 2, Điều 91, phần thứ 3, Chương I của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH 13 ngày 20/6/2012; căn cứ Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Hành vi vi phạm của Lê Văn T như đã nêu, UBND phường H có đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố B xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Văn T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B với thời gian từ 12 đến 24 tháng và giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Văn T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, Lê Văn T đã được triệu tập lần hai hợp lệ đến phiên họp nhưng Tuyến vắng mặt lần hai không có lý do, vậy xem xét theo quy định pháp luật.
Cũng tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu quan điểm đánh giá về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Văn T đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B. Xem xét hành vi vi phạm của Lê Văn T, tài liệu lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố là có căn cứ, đúng pháp luật. Từ đó đề nghị đưa Lê Văn T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B với thời gian chấp hành từ 16 đến 20 tháng.
Sau khi nghe ý kiến về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính, những sai phạm, nhân thân của người bị đề nghị; Ý kiến đánh giá việc tuân theo pháp luật trong việc lập hồ sơ, quá trình thụ lý, xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Văn T của Phòng lao động và thương binh xã hội thành phố B.
XÉT THẤY:
Việc lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng nghiện chất ma túy Lê Văn T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố B, tỉnh Blà đúng thẩm quyền, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 6; khoản 2 Điều 102 Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Xét nhân thân và những vi phạm của Lê Văn T thấy: Lê Văn T có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2021 cho đến nay vẫn thường xuyên sử dụng ma túy tổng hợp Methaphetamine hình thức sử dụng hút qua ống hút lọc qua nước trong chai nhựa. Trong thời gian chấp hành Quyết định số 86/QĐ-UBND, ngày 09/6/2022 Chủ tịch UBND phường H áp dụng cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 09/6/2022 đến ngày 09/11/2022, khoảng 10 giờ 10 phút, ngày 05/8/2022 Công an phường H, thành phố B kiểm tra phát hiện tại nhà của Lê Văn T; địa chỉ: Khu Ất, phường H, thành phố B, tỉnh B, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện và bị Công an phường H, thành phố B lập biên bản. Căn cứ quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thấy, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố B lập hồ sơ đề nghị đưa Lê Văn T vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B là có căn cứ, đúng đối tượng, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 5 điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95, khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 105; Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 29, 30, 31, 32 Pháp lệnh số 09/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định các biện pháp xử lý hành chính tại toà án nhân dân”; Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số diều của Luật Phòng, chống ma túy về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh) đối với Lê Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B của Lê Văn T là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án (trường hợp ốm đau, thiên tai, địch hoạ hoặc trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian trở ngại khách quan không tính vào thời hạn khiếu nại).
4. Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 3 ngày làm việc, kể từ ngày Toà án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Công an thành phố B, tỉnh B; Công an phường H, thành phố B, tỉnh B Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố B, tỉnh B và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; Phòng LĐTBXHTP Bắc Ninh; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh; - Người bị áp dụng Lê Văn Tuyến; - UBND phường Hạp Lĩnh; - Công an phường Hạp Lĩnh, tp Bắc Ninh; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thu Hồng |