- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người mất tích về quan hệ hôn nhân, gia đình các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:14/2021/QĐST-VDS | B, ngày 24 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH T
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Tống Thị Hà
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Kim Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm S, tỉnh T mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số:43/2021/TLST-VDS ngày 04 tháng 8 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số:31/2021/QĐST- MPH ngày 15/12/2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị A - sinh năm 1977 Tró qu¸n: Tổ 6, khu phố 7, phường Đông Sơn, thÞ x· B, tØnh T
(Có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích ngày 29/7/2021, bản tự khai ngày 19/8/2021 và tại phiên họp chị Ngô Thị A trình bày:
Chị và anh Nguyễn Việt T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Năm 1997 vợ chồng tổ chức đám cưới đến năm 2003 làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường Lam Sơn, thị xã B, tỉnh T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại tổ 6, khu phố 7, phường Đ, thị xã B, tỉnh T. Chung sống với nhau được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vì khó khăn về kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau không ai nhường nhịn ai. Hơn nữa, chồng chị có tính hay ghen và thường xuyên đánh đập vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Đến năm 2006 vợ chồng cãi nhau gay gắt, anh T đánh đập chị và bỏ đi luôn không về nhà và không có tin tức gì với vợ con. Mặc dù chị đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh T. Chị có về quê bố mẹ anh Tiệp ở huyện N, tỉnh Nam Đ tìm kiếm, dò hỏi anh em họ hàng bên nhà chồng nhưng không ai có thông tin gì. Nay thời gian anh T bỏ nhà đi đã lâu, vắng mặt tại địa phương đã 15 năm không biết đi đâu, làm gì. Nên chị xét thấy để đảm bảo quyền lợi cho chị, chị làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã B tuyên bố mất tích đối với chồng chị có danh tính như sau:
Họ và tên: Nguyễn Việt T - sinh năm 1969
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6 Khu phố 7, phường Đ, thị xã B, tỉnh T.
Tại phiên họp chị Ngô Thị A vẫn giữ nguyên nội dung lời trình bày và quan điểm về yêu cầu của mình.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý việc dân sự như: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tiền tạm ứng lệ phí, xác định quan hệ pháp luật, ra thông báo thụ lý đúng quy định của Điều 365 Bộ luật tố tụng Dân sự. Tuân thủ đầy đủ các quy định về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Việc thông báo thụ lý, việc tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập đương sự viết bản tự khai hợp lệ. Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 3 Điều 27, Điều 144, khoản 2 Điều 146; Điều 384, 385, 387, 388, và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 68 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận đơn yêu cầu của Tòa án tuyên bố một người mất tích của chị Ngô Thị A đối với anh Nguyễn Viết T.
- Đề nghị Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Việt T; sinh năm 1969; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, khu phố 7, phường Đ, thị xã B, tỉnh T mất tích.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người mất tích về quan hệ hôn nhân, gia đình các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án buộc chị Ngô Thị A phải nộp lệ phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn nhận định:
Xét quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét về yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Ngô Thị A đối với chị Nguyễn Việt T đây là quan hệ “ Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Người bị yêu cầu anh Nguyễn Việt T; nơi cư trú cuối cùng tại phường Đ, thị xã B. Vì vậy, áp dụng khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T.
Về nội dung yêu cầu của đương sự: Anh Nguyễn Việt T kết hôn với chị Ngô Thị A năm 1997, đến năm 2003 làm thủ tục đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại tổ 6, khu phố 7, phường Đ, thị xã B. Chung sống với nhau được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vì khó khăn về kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không ai nhường nhịn ai. Hơn nữa, anh T có tính hay ghen và thường xuyên đánh đập vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên đến năm 2006 anh T đánh đập chị A và bỏ nhà đi luôn không về nhà và không có tin tức gì. Mặc dù chị A đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức của anh T. Chị A về quê bố mẹ anh T ở huyện N, tỉnh N tìm kiếm, dò hỏi anh em họ hàng bên nội nhưng không ai có thông tin hay tin tức gì. Nay thời gian anh T bỏ nhà đi đã lâu, vắng mặt tại địa phương đã 15 năm không biết đi đâu, làm gì. Nên chị A xét thấy để bảo đảm quyền lợi cho chị nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh Nguyễn Việt T theo quy định tại Điều 387 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã ra thông báo đăng tin tìm kiếm anh Nguyễn Việt T trên báo Công lý trong ba số báo liên tiếp ra các ngày 13, 18 và ngày 20/8/2021 và Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng 3 lần trong ba ngày liên tiếp ngày 21, 22 và 23/8/2021 để tìm anh Nguyễn Việt Tiệp về giải quyết việc chị Ngô Thị A yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Việt T mất tích.
Nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng tin và phát sóng lần đầu tiên trên báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam nhưng vẫn không có tin tức gì của anh T. Xét thấy, yêu cầu của chị Ngô Thị A về việc tuyên bố anh Nguyễn Việt T mất tích hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật, nên cần xem xét chấp nhận đơn yêu cầu của chị Ngô Thị A.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Theo quy định tại Điều 6, Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 21/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Ngô Thị Anh nộp 300.000đ lệ phí DSST.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39; Điều 144, khoản 2 Điều 146, Điều 149; Điều 361, 362, 363, 387, 388, và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Điều 68 Bộ luật Dân sự,
- Điều 6, Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án và tiểu mục 1 phần I danh mục mức án phí lệ phí ban hành kèm theo.
Điều 1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Ngô Thị A về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Điều 2. Tuyên bố anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1969; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, khu phố 7, phường Đ, thị xã B, tỉnh T “ mất tích”
- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người mất tích về quan hệ hôn nhân, gia đình các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị A phải nộp 300.000đ( Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ chị Ngô Thị A đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã B theo biên lai thu số: AA/2021/0004986 ngày 04/8/2021. Như vậy, chị Ngô Thị A đã thi hành xong khoản lệ phí giải quyết việc dân sự. Điều 3: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã B; - Tòa án tỉnh T - UBND phường Đ - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP TỐNG THỊ HÀ |