vanban.org

Quyết định 14/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị B.

Tuyên bố ông Phạm Văn Y, sinh năm: 1967. Hộ khẩu thường trú: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Hoàng Thị B, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là người giám hộ c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — ""Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" Người yêu cầu bà Hoàng Thi B , Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Pham Văn Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Thông tư số 23/2019/TT-BYT ban hành quy trình giám định pháp…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Số: 14/2021/QĐST - VDS
XM, ngày 29 tháng 12 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ

hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM

- Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên họp: Ông Vũ Đình Rư – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện XM mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 117/2021/TLST - VDS ngày 19 tháng 10 năm 2021 về “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 42/2021/QĐST – VDS ngày 14 tháng 12 năm 2021;

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị B, sinh năm: 1968 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Văn Y, sinh năm: 1967 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Ông Phạm Hoàng T, sinh năm: 1996 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bà Phạm Thị Hồng T, sinh năm: 2001 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 28/6/2021, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp người yêu cầu bà Hoàng Thị B trình bày:

Bà Hoàng Thị B xây dựng gia đình với ông Phạm Văn Y vào năm 1995 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Tân, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà B và ông Yên có 02 người con chung tên Phạm Hoàng T, sinh năm 1996 và Phạm Thị Hồng T, sinh năm 2001, cha mẹ của ông Yên đã mất. Ông Yên là người câm, điếc bẩm sinh từ nhỏ (không nghe, không nói được) ở mức độ nặng và không hiểu biết các ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói, nhận thức thì hạn chế không tự trình bày quan điểm và không thể tự làm các thủ tục khác để đảm bảo quyền lợi cho chính mình. Ông Yên không đi học nên không biết chữ, trong sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, vệ sinh cá nhân ông Yên tự chăm sóc bản thân. Ông Yên được UBND thị trấn PB, huyện XM cấp giấy xác nhận khuyết tật và được nhận tiền trợ cấp xã hội hàng tháng.

Nay bà B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Yên là một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, để thuận tiện trong các giao dịch dân sự.

Tại bản tự khai và tại phiên họp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng T trình bày:

Ông T2 là con của bà Hoàng Thị B và ông Phạm Văn Y. Ông Yên bị câm, điếc bẩm sinh từ nhỏ, không nghe, không nói được. Trong sinh hoạt hàng ngày, ông Yên làm chủ được bản thân, tự sinh hoạt cá nhân nhưng nhận thức kém, hiện ông Yên đang sống với bà B. Để tiện cho các giao dịch dân sự ông T2 đồng ý việc bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn Y có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông T2 đồng ý bà Hoàng Thị B là người giám hộ và ông T2 đồng ý là người giám sát việc giám hộ.

Tại bản tự khai và tại phiên họp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Hồng T trình bày:

Bà T là con của bà Hoàng Thị B và ông Phạm Văn Y. Ông Yên bị câm, điếc bẩm sinh từ nhỏ, không nghe, không nói được. Trong sinh hoạt hàng ngày, ông Yên làm chủ được bản thân, tự sinh hoạt cá nhân nhưng nhận thức kém, hiện ông Yên đang sống với bà B. Để tiện cho các giao dịch dân sự bà T đồng ý việc bà Hoàng Thị Byêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn Y có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bà T đồng ý bà Hoàng Thị B là người giám hộ và đồng ý ông Phạm Hoàng T là người giám sát việc giám hộ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM phát biểu:

Từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên họp thấy rằng Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý việc dân sự đúng thẩm quyền, thu thập đầy đủ chứng cứ. Người yêu cầu và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày của các đương sự tại phiên họp nhận thấy yêu cầu của bà Hoàng Thị B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn Y là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ theo quy định tại Điều 379 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Hoàng Thị B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà Hoàng Thị B cung cấp, xác định đây là việc dân sự về “Yêu cầu Tòa án tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, ông Phạm Văn Y có hộ khẩu thường trú tại huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Do đó Tòa án nhân dân huyện XM thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35 và điểm a Khoản 2 Điều 39, Điều 376 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Hoàng Thị Bxây dựng gia đình với ông Phạm Văn Y vào năm 1995 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Tân, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do đó việc bà B làm đơn yêu cầu tuyên bố ông Yên có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là đúng quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ông Phạm Văn Y bị câm, điếc bẩm sinh, được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng của UBND thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trong cuộc sống ông Yên tự sinh hoạt cá nhân. Về nhận thức, ông Yên nhận thức hạn chế không thể tự trình bày quan điểm và không thể tự làm các thủ tục khác để đảm bảo quyền lợi cho chính mình, hiện ông Yên đang sống với bà B. Bà B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn Y là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để thuận tiện trong các giao dịch dân sự.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 950/KLGĐ ngày 04/11/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Căn cứ Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới về các rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD – 10), căn cứ Thông tư số 23/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy trình Giám định Pháp y Tâm thần. Kết luận:

Về y học: Đương sự chậm phát triển tâm thần, mức độ nhẹ/ Câm điếc bẩm sinh (F70/H930 – ICD 10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự là người có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi.

Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 23 Bộ luật Dân sự thì có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị Bvề việc tuyên bố ông Phạm Văn Y là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Hoàng Thị B là người giám hộ cho ông Phạm Văn Y. Bà B có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Điều 58, Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông Phạm Hoàng T và bà Phạm Thị Hồng T cùng thống nhất cử ông Phạm Hoàng T là người giám sát việc giám hộ, ông Phạm Hoàng T đồng ý là người giám sát việc giám hộ. Căn cứ Điều 51 của Bộ luật dân sự thì việc cử người giám sát việc giám hộ của các đương sự là phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị B phải nộp tiền lệ phí Tòa án theo luật định.

Về chi phí giám định: Bà Hoàng Thị B phải chịu chi phí giám định và đã nộp đủ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 23, Điều 46, Điều 47, Điều 51, khoản 4 Điều 54, Điều 57, Điều 58, Điều 59 Bộ luật Dân sự; điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị B.

Tuyên bố ông Phạm Văn Y, sinh năm: 1967. Hộ khẩu thường trú: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Chỉ định bà Hoàng Thị B, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là người giám hộ cho ông Phạm Văn Y.

Bà Hoàng Thị B có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại các Điều 57, Điều 58, Điều 59 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Người giám sát việc giám hộ là ông Phạm Hoàng T, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị B phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010532 ngày 19/10/2021 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Hoàng Thị B đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

5. Về chi phí giám định: Bà Hoàng Thị B đã nộp đủ.

6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ