- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn b B n án dân sự phúc thẩm số 78/2018/DS-PT ngày 07/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Hoàng Phạm Ng, bà Bùi Thị Th v i bị đơn ông Trần Văn X, bà Lưu Thị Q và ngư i có quyền ợi, nghĩa vụ iên quan là Lưu Ngọ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG ------------------ Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/2021/DS-GĐT Ngày 28-4-2021 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tuấn và ông Đặng Kim Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hưởng – Thẩm Tra viên Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án“Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Phạm Ng, sinh năm 1961 và bà Bùi Thị Th, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: khu phố X, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn X, sinh năm 1966 và bà Lưu Thị Q, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Ngọc Q, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Thửa đất tranh chấp giữa vợ chồng ông Ng, bà Th v i bà Q và vợ chồng ông Q, bà Ng theo S m c kê đất thị trấn H (quyển số 02 năm 2001) à thửa số 99, t b n đồ 35, diện t ch 383m2. Kết qu đo đạc năm 2015 do Công ty địa ch nh Tư vấn và Dịch vụ thu c T ng công ty TN&MT Việt Nam thực hiện xác định à thửa số 109, t b n đồ 100, diện t ch 389m2, khu phố Ng, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Theo ông Ng, bà Th thì năm 1999 Ông Bà bán cho bà Q 01 căn nhà và diện t ch đất 607,5m2 tại Khu phố 6 có viết Giấy mua bán và xin UBND thị trấn H xác nhận; Giấy mua bán bà Q giữ và bà Q đã tr Ông Bà đủ 9.200.000 đồng; ngoài ra Ông Bà còn cho bà Q mượn 01 thửa đất diện t ch hơn 350m2 à đất Ông Bà nhận chuyển nhượng của ông Đoàn Ngọc Liên Luyện ngày 16 5 1998. Năm 2003, Ông Bà đến thửa đất cho bà Q mượn để canh tác thì vợ chồng ông Q, bà Ng ngăn c n. Năm 2013, ông Ng tìm được Giấy nhận chuyển nhượng đất v i ông Luyện trư c đó bị thất ạc nên yêu cầu bà Q tr đất thì bà Q không tr vì cho rằng thửa đất này bà Q cũng đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Ng h cho vợ chồng anh trai à ông Q, bà Ng v i giá 200.000 đồng cùng th i điểm mua nhà và diện t ch 607,5m2 đất. Do đó, nay vợ chồng ông Ng, bà Th khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông X, bà Q và vợ chồng ông Q, bà Ng tr thửa đất mượn.
[2] Bà Q cho rằng, năm 1999 bà Q mua h vợ chồng anh trai là ông Q 02 thửa đất của vợ chồng ông Ng, bà Th v i giá 9.200.000 đồng; 01 thửa đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 607,5m2 và 01 thửa chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 389m2; việc chuyển nhượng 02 thửa đất viết cùng m t giấy và bà Q đã giao Giấy mua bán ại cho vợ chồng ông Q, bà Ng nên không còn iên quan. Vợ chồng ông Q, bà Nguyệt thừa nhận trình bày của bà Q và trình bày Giấy mua bán mà bà Q giao cho Ông Bà không còn do năm 2008 nhà của Ông Bà bị cháy. Ông Bà sử dụng đất iên tục từ năm 1999, năm 2000 Ông Bà xây dựng chuồng nuôi ợn, xây tư ng rào kiên cố bao quanh, đ đất nâng nền thì vợ chồng ông Ng biết nhưng không ph n đối, do đó nay ông Q, bà Ng không đồng ý tr thửa đất diện t ch 389m2 cho vợ chồng ông Ng, bà Th.
- Tại B n án dân sự sơ thẩm số 07 2017 DSST ngày 08 11 2017, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Phú Yên quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ng, bà Th. Buộc vợ chồng ông X, bà Q và vợ chồng ông Q, bà Ng phải trả toàn bộ diện tích đất tranh chấp 389m2 thuộc thửa đất số 109, tờ bản đồ số 100, người sử dụng đất là ông Hoàng Phạm Ng, có tự cận: Đông giáp đường hẻm bê tông, Tây giáp đất Đặng Đình Tụ, Nam giáp đường hẻm bê tông, Bắc giáp đất ông Hồ Vĩnh Huệ. Tọa lạc: Khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên cho vợ chồng ông Ng, bà Th. Vợ chồng ông Ng, bà Th được quyền liên hệ kê khai, đăng ký để cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định pháp luật. Vợ chồng ông Ng, bà Th phải trả cho vợ chồng ông Q, bà Ng 268.024.000đ.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án ph , chi ph định giá và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp uật.
- Ngày 21 11 2017, nguyên đơn ông Ng, bà Th và ngư i có quyền ợi, nghĩa vụ iên quan à ông Q, bà Ng kháng cáo. Ngày 23 11 2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện S kháng nghị.
- Tại B n án dân sự phúc thẩm số 78 2018 DSPT ngày 07 9 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định sửa b n án sơ thẩm không chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Hoàng Phạm Ng và bà Bùi Thị Th.
- Ngày 09/7/2019, ông Ng và bà Th có Đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối v i B n án dân sự phúc thẩm số 78 2018 DSPT ngày 07 9 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2020/KN-DS ngày 14/10/2020, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm; hủy toàn b B n án dân sự phúc thẩm số nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm ại theo đúng quy định của pháp uật.
- Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị H i đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguồn gốc thửa đất hiện tranh chấp à của vợ chồng ông Nguyễn Phụng K và bà Bùi Thị L, ngày 13/12/1995 ông K bà L viết Giấy thỏa nhượng đất ở chuyển nhượng thửa đất cho vợ chồng ông Phan Văn C, bà Lương Thị Đ; sau đó, ông C, bà Đ viết Giấy sang nhà đất không đề ngày tháng bán nhà đất cho bà Dương Thị L. Ngày 16 5 1998, ông Đoàn Ngọc L1 con rể bà L viết “nguyên 350m2 đất này tôi mua cho mẹ vợ ở nhưng bà không ở nay tôi nhượng lại cho anh Hoàng Hồng Ng trọn quyền sử dụng” (bl 01, 02).
[2] Xét thấy: [2.1] Việc chuyển nhượng 350m2 đất đo hiện nay à 389m2, thu c thửa số 109, t b n đồ số 100, khu phố Ng, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên từ vợ chồng ông K, bà L sang vợ chồng ông C, bà Đ, từ vợ chồng ông C, bà sang bà L và từ ông L1 sang ông Ng mặc dù chỉ à viết tay, nối tiếp trên cùng m t t Giấy, không được công chứng, chứng thực b 01, 02 nhưng hiện nay ông L1 vẫn thừa nhận thửa đất các đương sự đang tranh chấp à thửa đất ông L1 chuyển nhượng cho ông Ng tại Giấy ghi ngày 16 5 1998 b 183 . [2.2] Tại S m c kê đất thị trấn H quyển số 02 năm 2001 ghi “thửa đất số 99, tờ bản đồ 35, diện tích 383m2, đất Thổ, Tên chủ sử dụng đất: Ng” (bl 45), Trích l c bản đồ địa chính ngày 28/9/2015 (bl 44) ghi thửa đất 99, t b n đồ 35, diện t ch 383m2 nhưng không đề “Tên chủ sử dụng đất” và theo cung cấp của UBND thị trấn H tại Biên bản xác minh ngày 20/3/2017 b 177 , cung cấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện S tại Biên bản xác minh ngày 14/3/2017 (bl 165) thì “Đất đang tranh chấp do dân tự khai hoang, không thuộc diện quy hoạch của Nhà nư c”. [2.3] Từ [2.1] và [2.2] xét có việc ông Ng nhận chuyển nhượng thửa đất hiện nay à thửa số 109, t b n đồ số 100, khu phố Ng, thị trấn H vào ngày 16 5 1998 từ ông Luyện. Bà Q và vợ chồng ông Q, bà Ng cho rằng mua thửa đất này của ông Ng nhưng không cung cấp được tài iệu, chứng cứ chứng minh; trong khi ông Ng không thừa nhận mà cho rằng chỉ cho mượn. Mặt khác, việc bà Q và vợ chồng ông Q, bà Ng cho rằng đã mua đất của ông Ng từ năm 1999 nhưng không đăng ký kê khai sử dụng thửa đất 99 qua các th i kỳ à không phù hợp v i thực tế, chứng minh trình bày của ông Q, bà Ng à không có cơ sở để được chấp nhận.
[3] V i các tài iệu chứng cứ nêu trên, ẽ ra khi gi i quyết tranh chấp đất đai trong trư ng hợp các bên tranh chấp không có giấy t về quyền sử dụng đất thì cần công nhận diện t ch đất tranh chấp thu c quyền sử dụng hợp pháp của ông Ng m i đúng quy định tại điểm a kho n 1 Điều 91 Nghị định số 43 2014 NĐ-CP ngày 15 5 2014 của Ch nh phủ (v/v quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai năm 2013). Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ S m c kê đất thị trấn H ập năm 2001 và hồ sơ địa ch nh Trích l c bản đồ địa chính ập ngày 28 9 2015 không ghi tên chủ sử dụng thửa đất th số 99, t b n đồ 35, diện t ch 383m2, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Ng, bà Th à không đánh giá toàn diện các tài iệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không đúng pháp uật. Tòa án cấp sơ thẩm mặc dù xác định thửa đất th số 99 nêu trên à đất ông Ng có quyền sử dụng hợp pháp và xác định ông Ng chỉ cho bà Q mượn đất nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ng bu c ông Q, bà Ng tr đất, nhưng ại cho rằng mỗi bên có ỗi 50% khi tranh chấp đất nên bu c vợ chồng ông Ng tr ại vợ chồng ông Q, bà Ng ½ giá trị đất thị trư ng số tiền 250.000.000 đồng à không có cơ sở, không đúng quy định của pháp uật. Vợ chồng ông Ng xác định chỉ cho mượn đất, nay trên đất vợ chồng ông Q, bà Ng đã xây dựng m t số công trình và ông Ng cũng thừa nhận có biết việc xây dựng này nhưng không ngăn c n, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm bu c vợ chồng ông Ng, bà Th bồi hoàn giá trị xây dựng các công trình còn ại cho vợ chồng ông Q, bà Ng à có cơ sở, đúng pháp uật.
[4] Từ những phân t ch trên, H i đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2020/KN-DS ngày 14/10/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 337, Điều 343, Điều 345, Điều 348, Điều 349 B uật Tố tụng dân sự năm 2015.
1. Hủy toàn b B n án dân sự phúc thẩm số 78/2018/DS-PT ngày 07/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Hoàng Phạm Ng, bà Bùi Thị Th v i bị đơn ông Trần Văn X, bà Lưu Thị Q và ngư i có quyền ợi, nghĩa vụ iên quan là Lưu Ngọc Q, bà Nguyễn Thị Ng.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm ại theo đúng quy định của pháp uật;
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu ực pháp uật kể từ ngày H i đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (02 b n kèm theo hồ sơ vụ án ; - Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Phú Yên để biết ; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng để biết ; - Chi cục THADS huyện S, tỉnh Phú Yên để thi hành); - Các đương sự theo địa chỉ ; - Lưu: Phòng Lưu trữ; Phòng GĐKT về DS-LĐ- KDTM và hồ sơ vụ án. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Tuấn |