vanban.org

Quyết định 14/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L.

Tuyên bố: chị Trương Thị T; sinh năm 1991 mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự: ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0009521 ngày 07/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố 1 người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2019/QĐST-VDSKrông Pắc, ngày 08 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Chu Anh Hùng.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhị- Thư ký Toà án huyện Krông Pắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thuỷ – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 15/2018/TLST-VDS ngày 07/9/2018, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 14/2019/QĐST-VDS ngày 22/4/2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Lê Thanh B; sinh năm 1965- Có mặt

Bà Nguyễn Thị L; sinh năm 1967- Có mặt

Nơi cư trú: Thôn 3, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trương Thị T; sinh năm 1991 - Vắng mặt

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 3, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L trình bày như sau:

Vợ chồng ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L có con là Lê Thanh H; sinh năm 1991, vào ngày 11/6/2012 thì anh H đã chết tại Đà Nẵng do tai nạn giao thông theo giấy trích lục khai tử số 19/TLKT, ngày 30/7/2018 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Trước đó con trai ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L đã đăng ký kết hôn với chị Trương Thị T; sinh năm 1991 tại UBND xã H, theo giấy chứng nhận kết hôn số 73/2011, quyển sổ 01/2011, ngày 22/11/2011.

Sau khi con trai ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L qua đời thì con dâu ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L là chị Trương Thị T sinh được 01 bé gái tên là: Lê Trương Trâm A, sinh ngày 12/9/2012. Đến khoảng tháng 02/2014 thì chị Trương Thị T đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, gia đình ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L đã báo cáo với chính quyền địa phương và đã liên lạc với những người quen biết để hỏi thăm, nhưng cũng không có tin tức.

Nay ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố chị Trương Thị T mất tích.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên họp: Quá trình từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015, đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu. Tuyên bố chị Trương Thị T mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc nhận định:

Về thẩm quyền: Căn cứ vào đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L và các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã xác định được, nơi cư trú cuối cùng của chị Trương Thị T là thôn 3, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý vào giải quyết là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Vợ chồng ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L có con trai là Lê Thanh H; sinh năm 1991. Ngày 22/11/2011 anh Lê Thanh H đăng ký kết hôn với chị Trương Thị T, ngày 11/6/2012 anh Lê Thanh H bị tai nạn giao thông và đã chết tại Đà Nẵng, ngày 12/9/2012 chị Trương Thị T sinh được 01 bé gái tên là: Lê Trương Trâm A.

Đến khoảng tháng 02/2014 thì chị Trương Thị T đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L đã báo cáo với chính quyền địa phương và đã liên lạc với những người quen biết để hỏi thăm, nhưng cũng không có tin tức. Vì vậy, ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L làm đơn yêu cầu tuyên bố chị Trương Thị T mất tích.

Tại biên bản xác minh ngày 10/9/2018, chính quyền địa phương cung cấp: chị Trương Thị T có nơi cư trú: Thôn 3, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, từ tháng 02/2014 cho đến nay đã đi khỏi địa phương, khi đi không thông báo cho chính quyền địa phương, hiện nay chị Trương Thị T đi đâu làm gì, chính quyền địa phương không biết.

Ngày 18/9/2018 Tòa án huyện Krông Pắc đã ra công văn số 65 và 66 gửi đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên và báo Công Lý để thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chị Trương Thị T. Đến nay đã kết thúc thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích mà vẫn không có tin tức gì của chị Trương Thị T.

Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 quy đinh: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”

Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc chấp nhận yêu cầu của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L để tuyên bố chị Trương Thị T mất tích là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015.

Về lệ phí: ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm chị Trương Thị T, ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L.

Tuyên bố: chị Trương Thị T; sinh năm 1991 mất tích.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0009521 ngày 07/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị L phải chịu 3.025.000 đồng (Ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền lệ phí thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên phương tiện thông tin đại chúng. Được khấu trừ vào số tiền 3.025.000 đồng (Ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã nộp, theo phiếu thu tiền số 01, tại Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lăk.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ