vanban.org

Quyết định 14/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoàng A về việc xác định cha cho con.

Chị Nguyễn Thị Hoàng A và anh Võ Thành Hoài B được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hoàng A được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hoàng Anh - Võ Thành Hoài Bảo"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoàng A về việc xác định cha cho con.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2019/QĐST-HNGĐChâu Thành, ngày 04 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Phương.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2019/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2019, về việc: Yêu cầu xác định cha cho con, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 14/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 6 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Thành Hoài B, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 17-5-2019 và biên bản lấy lời khai ngày 17-6-2019, chị Nguyễn Thị Hoàng A trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh Th đăng ký kết hôn vào năm 2015. Vợ chồng chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nên ly thân. Trong thời gian chị và anh Th sống ly thân, chị gặp và quen anh Võ Thành Hoài B. Năm 2017, chị và anh B sống chung với nhau như vợ chồng. Năm 2018, chị làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Minh Th và đã được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau giải quyết cho ly hôn bằng Bản án số: 250/2018/HNGĐ-ST ngày 28-9-2018. Ngày 23-12-2018, chị sinh cháu Nguyễn Hoàng Bảo Châu là con chung của chị và anh Võ Thành Hoài B. Tuy nhiên, khi đi đăng ký khai sinh cho con, do chị mang thai trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Th nên trong giấy khai sinh cháu Châu về phần họ và phần họ tên cha vẫn để họ và tên của anh Nguyễn Minh Th.

Đến ngày 29-3-2019, chị và anh B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Điền, giấy chứng nhận kết hôn số 36/2019. Nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết, xác định anh Võ Thành Hoài B là cha ruột của cháu Nguyễn Hoàng B Châu, để chị làm thủ tục cải chính giấy khai sinh của cháu Bảo Châu theo đúng quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-6-2019, anh Võ Thành Hoài B trình bày: Vào năm 2017, anh và Nguyễn Thị Hoàng A chung sống với nhau như vợ chồng nhưng đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do vào năm 2017, chị Hoàng A và anh Th mặc dù đã ly thân từ lâu nhưng chưa ly hôn. Ngày 28-9-2018, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau mới giải quyết cho chị Hoàng A ly hôn với anh Th. Đến ngày 23-12-2018, anh và chị Hoàng A có con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo Châu. Khi vợ chồng anh đi đăng ký khai sinh cho con thì cán bộ tư pháp xã Thanh Điền giải thích rằng chị Hoàng A mang thai cháu Bảo Châu trong thời kỳ hôn nhân với anh Th nên trong giấy khai sinh họ của cháu Châu và mục họ tên cha phải để họ và tên anh Th. Sau khi có giấy khai sinh, vợ chồng anh phải đi xét nghiệm AND sau đó làm đơn yêu cầu Tòa án xác định cha cho con xong mới làm thủ tục cải hộ tịch theo quy định được. Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết xác định anh là cha ruột của cháu Nguyễn Hoàng Bảo Châu.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu: Qua kiểm sát việc giải quyết việc dân sự từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm giải quyết thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 89 và Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoàng A, xác định anh Võ Thành Hoài B là cha ruột của cháu Nguyễn Hoàng Bảo Châu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên

họp, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hoàng A và anh Võ Thành Hoài B có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 238 và Điều 361 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Hoàng A mang thai cháu Nguyễn Hoàng Bảo Châu trong thời kỳ hôn nhân của chị A và anh Nguyễn Minh Th nên căn cứ khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình thì cháu Châu là con chung của chị A và anh Th. Tuy nhiên, cả chị A và anh Võ Thành Hoài B đều xác định cháu Châu là con ruột của chị A và anh B. Mặt khác, theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Trung tâm công nghệ di truyền Việt Nam đã kết luận: “Mẫu ADN ký hiệu VÕ THÀNH HOÀI B và mẫu ADN ký hiệu NGUYỄN HOÀNG BẢO CHÂU có quan hệ huyết thống cha – con, với tần suất 99,9999676%”, do vậy việc chị A và anh B yêu cầu xác định cháu Châu là con ruột của anh B là phù hợp với quy định tại Điều 89 và Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên cần chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hoàng A yêu cầu xác định anh Võ Thành Hoài B là cha của cháu Nguyễn Hoàng Bảo Châu, sinh ngày 23-12-2018 nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, Điều 238, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình và điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoàng A về việc xác định cha cho con. Tuyên bố anh Võ Thành Hoài B, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ 02, ấp Thanh Hùng, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, là cha ruột của cháu Nguyễn Hoàng Bảo Châu, sinh ngày 23-12-2018.

Chị Nguyễn Thị Hoàng A và anh Võ Thành Hoài B được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hoàng A được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ