- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu giải quyết xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Xác định cha cho con” ngày 20/03/2023 của chị Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Luật Hộ tịch; Điều 101 Thông tư số 04/2020/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:139/2023/QĐST-HNGĐ | Gia Lâm, ngày 25 tháng 04 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“Về việc yêu cầu xác định cha cho con”
----------------------------------------------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Cồ Khắc Đam.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tứ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 81/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/03/2023 về việc yêu cầu xác định cha cho con, theo Quyết định mở phiên họp số 13/2023/QĐST-VDS ngày 12 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị T, sinh năm 1981; Nơi thường trú: KĐT Đ, xã Đ, huyện G, Hà Nội. Có mặt tại phiên họp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Nguyên H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tthị trấn N, huyện T,, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
2. Anh Hà Duy K, sinh năm 1988; Nơi cư trú: KĐT K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SƯ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 20/3/2023, Văn bản ghi ý kiến ngày 22/3/2023 và bổ sung tại phiên họp chị Lê Thị T trình bày;
Năm 2009, tôi kết hôn với anh Lê Nguyên H, sinh năm 1976; Địa chỉ: thị trấn N, huyện T,, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/9/2009. Vợ chồng chung sống được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Tôi về sống cùng mẹ đẻ từ đầu năm 2010. Vợ chồng sống ly thân từ 2010 không còn liên lạc, quan tâm gì đến nhau nữa. Năm 2017 tôi có tình cảm với anh Hà Duy K, sinh năm 1988, ngày 07/02/2018 tôi sinh con tại Bệnh viện Đa khoa G, Hà Nội và đặt tên dự kiến là Hà Nguyên N.
Ngày 14/01/2021, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa thụ lý giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu của tôi đối với anh Lê Nguyên H. Do tôi khi khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn với anh H, tôi đã không trình bày với Tòa án về việc tôi có 01 con riêng nên Bản án số 13/2021/HNGĐ-ST ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã không ghi nhận và giải quyết về con chung và con riêng.
Sau khi ly hôn tôi đã đến UBND xã Đ, huyện G, Hà Nội nơi chị đăng ký thường trú làm thủ tục khai sinh cho cháu Hà Nguyên N mang tên cha là Hà Duy K. Nhưng do cháu N được sinh trong thời kỳ tôi và anh H vẫn tồn tại hôn nhân hợp pháp nên không khai sinh cho cháu N cha đẻ là anh Hà Duy K được. UBND xã Đ, huyện G, Hà Nội đã hướng dẫn tôi nộp đơn yêu cầu Tòa án xác định anh Hà Duy K là cha đẻ cháu Hà Nguyên N thì UBND xã mới làm thủ tục khai sinh cho cháu được.
Theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 28/8/2022 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần phân tích di truyền (GENTIS), kết luận anh K và cháu N có quan hệ cha con.
Nay cháu Hà Nguyên N đã lớn nhưng chưa làm được Giấy khai sinh cho cháu. Để đảm bảo quyền lợi của cháu theo quy định pháp luật. Tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm tuyên bố xác định anh Hà Duy K, sinh năm 1988; Nơi thường trú: 1KĐT K, phường Đ, quận H, Hà Nội là cha đẻ cháu Hà Nguyên N (tên dự kiến), sinh ngày 07/02/2018.
Anh Hà Duy K trong Văn bản ghi ý kiến ngày 22/3/2023 trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của chị Lê Thị T. Đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ cháu Hà Nguyên N (tên dự kiến), sinh ngày 07/02/2018.
Anh Lê Nguyên H trong Văn bản ghi ý kiến ngày 08/04/2023 gửi đến Tòa án trình bày: Thống nhất với ý kiến chị Lê Thị T trình bày. Anh xác định cháu Hà Nguyên N, sinh ngày 07/02/2018 do chị Lê Thị T sinh ra không phải là con chung giữa chị T với anh, vì cháu N sinh ra trong thời gian anh chị sống ly thân, do vậy cháu N là con riêng của chị T. Anh từ chối đứng tên cha trong Giấy khai sinh của cháu N. Đề nghị Tòa án xác định anh Hà Duy K là cha đẻ cháu Hà Nguyên N.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm thụ lý việc hôn nhân gia đình là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 366, 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia phiên họp đã chấp hành đúng các quy định tại các Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, việc anh Lê Nguyên H, anh Hà Duy K là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp là có căn cứ.
- Về nội dung: Căn cứ các Điều 88, 101, 102 và Điều 14 Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư Pháp quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015 ngày 15/11/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, đề nghị Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T. Xác định anh Hà Duy K, SN: 1988, nơi thường trú: khu đô thị K, phường Đ, quận Hoàng Mai là cha đẻ của cháu Hà Nguyên N, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2018.
- Về lệ phí: vụ việc được thụ lý từ ngày 20/3/2023 nên áp dụng Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu xác định cha cho con là chị Lê Thị T có Nơi thường trú: KĐT Đ, xã Đ, huyện G, Hà Nội nên thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Lời trình bày của chị Lê Thị T, anh Lê Nguyên H, anh Hà Duy K phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ như: Giấy chứng sinh số 58, quyển số 01/2018 cấp ngày 07/02/2018 tại Bệnh viện Đa Khoa G, Bản án số 13/2021/HNGĐ-ST ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đều thể hiện: năm 2017, chị Lê Thị T quen biết và có tình cảm với Hà Duy K, sau đó chị T và anh K có con chung với nhau là cháu Hà Nguyên N, sinh ngày 07/02/2018. Do khi sinh cháu N, chị T chưa ly hôn với chồng cũ là anh Lê Nguyên H và chưa đăng ký kết hôn với anh Hà Duy K nên dẫn đến việc chưa khai sinh được cho cháu N. Tại văn bản ghi ý kiến của anh Lê Nguyên H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận cháu N là con riêng của chị T.
Xét thấy: Kết luận giám định AND số 38/23/KLGĐADN-PYHN của Trung tâm pháp y Hà Nội, kết luận: anh Hà Duy K có quan hệ huyết thông bố - con với Hà Nguyên N (tên dự kiến), với độ tin cậy 99,9999%”. Vì vậy, đơn của chị Lê Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xác định anh Hà Duy K là cha đẻ của cháu Hà Nguyên N (tên dự kiến) là có căn cứ pháp luật theo quy định tại các Điều 29, Điều 35, Điều 370 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 88, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 39 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn “yêu cầu xác định cha cho con” của chị Lê Thị T.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về tố tụng và quan điểm về giải quyết việc hôn nhân gia đình là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị T được miễn nộp lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 48; khoản 2 Điều 92; các Điều 149; 361; 366; 369; 370; 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 90; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Xác định cha cho con” ngày 20/03/2023 của chị Lê Thị T.
Xác định anh Hà Duy K, sinh ngày 30/07/1988; Quê quán: huyện H, Thanh Hóa; Nơi thường trú: KĐT K, phường Đ, quận H, Hà Nội; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 16/08/2017 tại Cục Cảnh sát đăng ký quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia là cha của cháu Hà Nguyên N (tên dự kiến), sinh ngày 07/02/2018 theo Giấy chứng sinh số 58, quyển số 01/2018 cấp ngày 07/02/2018 tại Bệnh viện Đa Khoa G.
2. Về lệ phí Tòa án: Chị Lê Thị T được miễn nộp lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình.
3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan thi hành án cùng cấp; - Tòa án nhán dân thành phố Hà Nội; - UBND xã Đ, huyện G, Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án.. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Cồ Khắc Đam |