vanban.org

Quyết định 139/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 384, Điều 385, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 384, Điều 385, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 139/2022/QĐST- DSQuận 6, ngày 08 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Tú.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thùy Vân - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên họp:

Bà: Nguyễn Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 25/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 24/2022/QĐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1950.

Địa chỉ đăng ký thường trú: Số 165B đường P, phường A, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ nơi cư trú: Số 463 đường D, phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà H1 có mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu; Bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Phạm Thị H1 trình bày:

Ông Phạm Thái H2 (sinh năm 1970) là con đẻ của bà. Từ nhỏ đến năm 1990, ông Phạm Thái H2 sống chung với gia đình tại địa chỉ số 165B đường P, phường A, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1990, do bà làm ăn thất bại, kinh tế gia đình khó khăn nên ông H2 theo đi bạn bè làm ăn xa, không rõ tung tích, không liên lạc với gia đình. Đến nay gia đình bà đã liên tục tìm kiếm tung tích ông H2 nhưng vẫn không có thông tin về ông Phạm Thái H2 đang ở đâu. Khi bỏ đi thì ông Phạm Thái H2 không có vợ, con; không có tài sản gì để lại.

Nay để thuận lợi trong các giao dịch dân sự có liên quan đến ông Phạm Thái H2, nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Thái H2 là mất tích.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán chủ tọa phiên họp đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị H1 về việc tuyên bố ông Phạm Thái H2, sinh ngày 25/12/1970; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số 165B đường P, phường A, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; lời trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 6 nhận định:

[1.] Căn cứ Giấy khai sinh số 6399 ngày 28/12/1970 của Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Sài Gòn, có cơ sở xác định ông Phạm Thái H2 là con đẻ của bà Phạm Thị H1. Việc bà Phạm Thị H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Thái H2 mất tích là thuộc trường hợp được quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự thì bà Phạm Thị H1 có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Thái H2 mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

[2.] Theo xác nhận của Công an Phường 2, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Phạm Thái H2 có hộ khẩu thường trú tại số 165B đường P, phường A, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ năm 2017 đến nay, đi đâu không rõ. Trước khi yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Thái H2 mất tích thì bà Phạm Thị H1 đã thông báo tìm kiếm thông tin về ông Phạm Thái H2 trên phương tiện thông tin đại chúng trong ba kỳ liên tiếp nhưng không có kết quả nên việc Tòa án nhân dân Quận 6 thụ lý đơn yêu cầu của bà Phạm Thị H1 là có căn cứ.

[3.] Ngày 10/3/2022, Tòa án nhân dân Quận 6 đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2022/QĐ-TA đối với ông Phạm Thái H2. Thông báo đã được đăng trên báo Lao Động trong ba số liên tiếp, số đầu tiên đăng ngày 21/3/2022; Phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong ba ngày liên tiếp, lần phát sóng đầu tiên ngày 31/3/2022. Ngoài ra, Thông báo cũng được Đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đến ngày 22/7/2022 không có thông tin của ông Phạm Thái H2. Do đó, ngày 25/7/2022, Tòa án nhân dân Quận 6 ra Quyết định mở phiên họp và giải quyết việc dân sự là đúng quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4.] Xét thấy: Ông Phạm Thái H2 đã biệt tích hơn 02 năm liền, mặc dù người yêu cầu và Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Phạm Thái H2 còn sống hay đã chết. Vì vậy, việc bà Phạm Thị H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Thái H2 mất tích là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[5.] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị H1 thuộc đối tượng người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí Tòa án nên được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 384, Điều 385, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị H1: Tuyên bố ông Phạm Thái H2, sinh ngày 25/12/1970; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số 165B đường P, phường A, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị H1 thuộc đối tượng người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí Tòa án nên được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

3/ Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định;

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Nơi nhận:

Cỡ chữ