vanban.org

Quyết định 1380/2018/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Luật án phí và lệ phí 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1380/2018/HNGD-ST
Ngày: 03/10/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN QUAÄN GOØ VAÁP - THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH

Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Chu Thị Bình

Các Hoäi thaåm nhaân daân:

1/ Bà Nguyễn Kim Thủy

2/ Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

Thö kyù phieân toøa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên – Thư ký Toøa aùn nhaân daân quaän Goø Vaáp.

Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân quaän Goø Vaáp tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo - Kieåm saùt vieân.

Ngaøy 03 thaùng 10 naêm 2018 taïi phoøng xöû aùn cuûa Toøa aùn nhaân daân quaän Goø Vaáp Thành phố Hồ Chí Minh xeùt xöû sô thaåm coâng khai vuï aùn hôn nhân gia đình thuï lyù soá 410/2018/TLST-HN ngaøy 04 thaùng 04 naêm 2018 veà: “Tranh chaáp Ly hôn” Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 354/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 20/08/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 333/2018/QĐ-HPT ngày 10/9/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu, sinh năm 1979 địa chỉ: Số A đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1973, địa chỉ: Số B, Đường số 10, Phường K, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vaéng maët).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ñôn khôûi kieän ngày 26/3/2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Thtrình baøy:

Bà Thvà ông Nguyễn Quốc Đ kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường K, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng bà chung sống hạnh phúc được 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Bà và ông Đ đã ly thân từ năm 2010 đến nay, giữa bà và ông Đ đã có quá Nều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ.

Quá trình chung sống bà Trần Thị Thvà ông Nguyễn Quốc Đ có 01 con chung tên Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 01/05/2005 bà Th xin trực tiếp nuôi con, trong đơn khởi kiện bà Th yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Nhưng tại các buổi hòa giải, bà Th không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Thkhông yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ kiện này.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc Đ đã được tòa án niêm yết triệu tập hợp lệ đến Tòa để ghi lời khai vào ngày 22/5/2017, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 22/06/2018 và ngày 03/8/2018 nhưng ông Đ vẫn không có mặt tại Tòa, do đó Tòa án không ghi lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

* Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ Viện kiểm sát nghiên cứu.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Th được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 01/05/2005 giao cho bà Thnuôi dưỡng. Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thđối với ông Nguyễn Quốc Đ là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Căn cứ phiếu yêu cầu xác minh ngày 31/05/2018 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, kết quả xác minh của Công an Phường 15, quận Gò Vấp cho biết ông Nguyễn Quốc Đ đang cư trú tại số, Đường số, Phường, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã triệu tập đến lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Quốc Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với thủ tục được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số: 00058, quyển số: 01/2004 ngày 28/06/2004 tại Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà Trần Thị Thvà ông Nguyễn Quốc Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Thxét thấy trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, bà Thđã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, mâu thuẫn kéo dài tới nay. Nay bà Thmuốn ly hôn để ổn định cuộc sống. Qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường 15, quận Gò Vấp trả lời xác minh vợ chồng bà Thvà ông Đ không tham gia hoạt động tại địa phương, do đó khu phố không nắm rõ tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Thu. Tuy Nên Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của bà Trần Thị Thlà phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì thực tế tình cảm vợ chồng không còn. Mục đích hôn nhân không Đ được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc sống vợ chồng nữa, hiện cả hai đã sống ly thân; Tòa án cũng đã triệu tập ông Nguyễn Quốc Đ đến Tòa để ghi lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên Tòa, nhưng ông Đ vẫn không có mặt, thể hiện ông Đ không quan tâm đến kết quả xin ly hôn của bà Trần Thị Thtại Tòa. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thđối với ông Nguyễn Quốc Đ.

[5] Về con chung: Bà Trần Thị Thu, ông Nguyễn Quốc Đ có 01 con chung tên Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 01/05/2005 bà Th xin nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2017. Tại đơn khởi kiện bà Thyêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng, nhưng tại các lần hòa giải bà Ththay đổi yêu cầu, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con, đây là ý chí tự nguyện của bà Thvà cũng phù hợp với Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bà Thphải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, 82, 83, 84, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

- Luật án phí và lệ phí 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thđược ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số: 00058, quyển số: 01/2004 ngày 28/06/2004 tại Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị).

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 01/05/2005 cho bà Thnuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông Đ cho đến khi bà Thcó yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014 Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị Thphải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Thđã đóng tạm nộp theo Biên lai số AA/2017/0028878 ngày 04/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung 2014).

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống Đ hoặc niêm yết hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.

Cỡ chữ