vanban.org

Quyết định 138/2025/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Trần Trung T về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Tuyên bố ông Nguyễn Trần Trung T là cha ruột của cháu Trần Minh H1 Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tụcvề hộ tịch cho cháu Trần Minh H1 theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "quyết định xác nhận cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Trần Trung T về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 138/2025/QĐST-HNGĐ
Ngày: 08/9/2025
V/v“Yêu cầu xác định cha
cho con”.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Cao Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo hồ sơ thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, giải quyết việc dân sự về “Yêu cầu xác định cha cho con”, giữa:

Người yêu cầu: ông Nguyễn Trần Trung T sinh năm 1989;

Nơi cư trú: số A, Nguyễn Trung T1, khóm P, xã P, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đặng Ngọc D sinh năm 1982, nơi cư trú khu vực A, phường C, quận Ô, tỉnh Cần Thơ (nay là 850/20 khu vực 10, phường Ô, tỉnh Cần Thơ).

Ông Thái Văn H sinh năm 1971, nơi cư trú NKS (52/26) đường TX21, khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(ông T có mặt, các đương sự còn lại có đơn yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu ngày 21/7/2025, ông Nguyễn Trần Trung T trình bày:

Ông là cha của cháu Trần Minh H1 sinh ngày 23/10/2021 tại Bệnh viện T2 được cấp Giấy chứng sinh số 0031153/2021/TT-BYT quyển số 0312 do Sở Y tế Thành phố H cấp ngày 23/10/2021. Do hiện tại thủ tục giấy khai sinh cho cháu H1 phải thực hiện thêm thủ tục xác nhận cha cho con, do giữa tôi và mẹ ruột bé H1 (bà D) đã có con khi chưa đăng ký kết hôn.

Ông T xác định bé H1 là con ruột của ông và bà D. Kết quả yêu cầu giám định ADN của ông T và cháu H1 ghi rõ ông T là cha ruột của cháu H1.

Nay ông làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận ông là cha ruột của bé Trần Minh H1 để làm giấy khai sinh cho con theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà D thống nhất với kết quả ADN, xác định bé H1 là con ruột của ông T.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Thái Văn H trình bày giữa ông và bà Đặng Thị Ngọc D đã ly hôn năm 2025, tuy nhiên cả hai đã ly thân nhiều năm trước đó nên xác định cháu H1 không liên quan đến ông.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thực hiện tố tụng: Quá trình giải quyết việc “ Yêu cầu xác nhận cha cho con” và tại phiên họp Tòa án đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trần Trung T và xác định ông T là cha của cháu Trần Minh H1 theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, diễn biến tại phiên họp và phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Trần Trung T có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự yêu cầu Tòa án xác định ông T cha ruột của cháu Trần Minh H1. Xác định đây là yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành mở phiên họp theo quy định.

Về nội dung: giữa ông T và bà D có quan hệ tình cảm với nhau và có 01 con chung tên Trần Minh H1. Hiện nay, ông T cần làm thủ tục khai sinh cho bé H1 nên yêu cầu xác định ông là cha của bé Trần Minh H1.

Chứng cứ hồ sơ thể hiện: tại Phiếu kết quả phân tích ADN của Viện sinh học công nghệ A và phân tích di truyền tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: ông Nguyễn Trần Trung T sinh ngày 10/3/1989, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx và cháu Trần Minh H1 sinh ngày 23/10/2021 theo giấy chứng sinh số 0031153, quyển số 0312, ngày cấp 23/10/2021. Hai người trên có quan hệ huyết thống: CHA – CON. Các bên cũng thống nhất xác định cháu Trần Minh H1 là con ruột của ông T.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Dân sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Trần Trung T về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Tuyên bố ông Nguyễn Trần Trung T là cha ruột của cháu Trần Minh H1

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tụcvề hộ tịch cho cháu Trần Minh H1 theo quy định của pháp luật.

2. Về lệ phí: ông T đã nộp đủ theo biên lai thu số 0000578 ngày 07/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 12, tỉnh An Giang

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn (10) mười ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người nào vắng mặt tại phiên họp thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ