vanban.org

Quyết định 138/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Văn D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2021. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2021/HS-ST
Ngày: 07-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Viễn.

2. Bà Lường Thị Khuyển.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2021/QĐXXST-HS ngày 26/8/2021, đối với bị cáo:

Lò Văn D, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn T (đã chết) và con bà: Lò Thị N (đã chết); vợ là: Lò Thi T và 04 người con: Con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 05/5/2021, tổ công tác Công an xã C, Sông Mã làm nhiệm vụ tại Bản N, xã C, Sông Mã phát hiện Lò Văn D, sinh năm 1980, trú tại bản N, xã C, Sông Mã điều khiển xe mô tô hướng từ bản Nhọt C về bản N, xã C có biểu hiện nghi vấn nên đã ra hiệu dừng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên trái của D có 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa 17 viên nén màu hồng (D khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Lò Văn D, thu giữ gói nilon màu hồng chứa 17 viên nén màu hồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream II và 01 điện thoại Vivo.

Ngày 06/5/2021 tại Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, Hội đồng bóc mở niêm phong tiến hành cân tịnh và trích mẫu giám định, kết quả: 17 viên nén màu hồng thu giữ có khối lượng là 1,69 gam trích 02 viên có khối lượng là 0,19 gam để làm mẫu gửi giám định ký hiệu D, vật chứng còn lại D1.

Tại bản kết luận số 949; ngày 10/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu D1 là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,69 gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/5/2021 Lò Văn D đem theo số tiền 200.000VNĐ điều khiển xe mô tô Dream II nhãn hiệu Honda, không có biển kiểm soát đi từ nhà ở bản N, xã C, Sông Mã lên bản Pá N, xã C để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi lên đến bản Pá N, D gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch ngoài đường (trông giống người nghiện) nên dừng lại hỏi mua ma túy thì người này chỉ đường đi lên trên. D tiếp tục điều khiển xe đi lòng vòng trong bản thì gặp người đàn ông dân tộc Mông tên S khoảng 30 – 35 tuổi, (S đã từng bán Hồng phiến cho D một lần trước đó). D hỏi mua viên hồng phiến, đồng thời hỏi 01 viên bao nhiêu tiền thì S trả lời 25.000VNĐ/01 viên. D đưa cho S số tiền 200.000VNĐ, sau khi nhận tiền S lấy ra 01 gói nilon màu hồng chứa 18 viên Hồng phiến từ trong túi áo ra đưa cho D, nói cho D 02 viên và 16 viên còn lại bán với số tiền 400.000VNĐ, nhưng cho D nợ số tiền 200.000VNĐ khi khác trả. Nhận lấy gói ma túy D bỏ ra 01 viên để sử dụng ngay tại nhà của S bằng hình thức hít qua đường hô hấp rồi vứt bật lửa và giấy bạc đi, D gói 17 viên Hồng phiến còn lại bằng mảnh nilon màu hồng rồi cho vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi D về đến Bản N, xã C, Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 10 tháng 8 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 24 đến 28 tháng tù. Bị cáo là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh:

- Ngày 05/5/2021, tổ công tác Công an xã C, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Lò Văn D có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ được của bị cáo 17 viên ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,96 gam. Mục đích Tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

- Tại phiên toà bị cáo bị cáo khai báo thành khẩn, thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử bị cáo là không oan sai. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Lò Văn D đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng; tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vấn đề khác liên quan:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên S đã bán ma túy cho bị cáo tại bản Pá Nó, xã Chiềng Cang, Sông Mã. Quá trình điều tra, xác minh trong bản Pá Nó không có ai tên S giống như bị can mô tả. Do đó cơ quan Đều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ là phù hợp, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Fanlim, biển kiểm soát 20H7-9114, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Nguồn gốc xe do Lò Văn Toàn (con trai D) mua lại năm 2020 nhưng không làm thủ tục sang tên. Ngày 05/5/2021 bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy thì Toàn không biết. Ngày 25/7/2021 cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho Lò Văn Toàn là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vật chứng của vụ án còn lại gồm: 01 phong bì thư niêm phong, dán kín, gồm: 01 túi nilon màu trắng chứa 1,39gam ma tuý; 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO tạm giữ của bị cáo, không liên quan đến tội phạm của bị cáo nên cần trả lại.

Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí.

Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc nhằm có mức án tương xứng với khối lượng ma tuý của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Văn D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2021.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín, chứa: 01 túi nilon màu trắng chứa Hồng phiến có tổng khối lượng là 1,39gam; 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở;

- Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, đã qua sử dụng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 104 ngày 10/8/2021 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2021 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 07/9/2021.

Cỡ chữ