vanban.org

Quyết định 1379/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Tấn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01 ngày 20 tháng 3 năm 2007 do Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Đoa, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (nay là xã Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trầ…

Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Tấn N, sinh ngày 20/4/2008 và Trần Tấn N, sinh ngày 19/8/2016. Giao 02 con chung tên Trần Tấn N và Trần Tấn N cho ông Trần Tấn H trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Tấn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01 ngày 20 tháng 3 năm 2007 do Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Đoa, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (nay là xã Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trầ…
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – TP HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1379/2025/QĐST-HNGĐTP. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 508/2025/TLST– HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”, giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 Địa chỉ: LĐ, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh Bị đơn: Ông Trần Tấn H, sinh năm 1978 Địa chỉ: LĐ, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 12 năm 2025;

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 12 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Tấn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01 ngày 20 tháng 3 năm 2007 do Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Đoa, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (nay là xã Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trần Tấn H không còn giá trị pháp lý. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Tấn N, sinh ngày 20/4/2008 và Trần Tấn N, sinh ngày 19/8/2016. Giao 02 con chung tên Trần Tấn N và Trần Tấn N cho ông Trần Tấn H trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), bà Nguyễn Thị T tự nguyện nộp nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021226 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, trả lại cho bà Nguyễn Thị T 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí còn dư. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ