vanban.org

Quyết định 136/2024/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày 06/03/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng S; Địa chỉ trụ sở: Số 266 – 268 N, Phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D- Tổng Giám đốc.; Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng S (Theo Giấy Ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-P… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày 06/03/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 136/2024/QĐST- DSBa Đình, ngày 30 tháng 05 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, Điều 97, Điều 169, khoản 1,2 Điều 180, điểm đ khoản 1 Điều 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điềm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày 06/03/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”;

Xét thấy: Ngày 20 tháng 02 năm 2024, nguyên đơn - Ngân hàng S có đơn khởi kiện “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông K theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/8/2018 có thể hiện địa chỉ nơi ở của bị đơn – ông K tại số 36, B, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 14 tháng 03 năm 2024 Tòa án tiến hành xác minh tại Công an phường Nguyễn Trung Trực cung cấp ông K không ăn ở sinh sống tại số 36, B, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, không xác định được nơi cư trú của ông K.

Tòa án tiến hành xác minh thông tin cư trú của ông K tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Ngày 26/03/2024, Công an xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cung cấp: ông K, sinh ngày 01/6/1979 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại cụm A xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay của ông Khuê tại phòng 203, khu tập thể H, ngõ 94 phố T, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Ngày 01/04/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại Công an phường Trung Liệt cung cấp: ông K không ăn ở sinh sống tại phòng 203, khu tập thể H, ngõ 94 phố T, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, không xác định được nơi cư trú của ông K.

Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ nhưng nguyên đơn - Ngân hàng S không xuất trình được địa chỉ nơi cư trú hiện tại của ông K, không xuất trình được căn cứ khi bắt đầu phát sinh lãi quá hạn đã gửi thông báo yêu cầu xử lý nợ cho ông K.

Nhận thấy: Việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án tại các địa chỉ trên trong khi ông K không ăn ở sinh sống tại đây, không đảm bảo cho ông K nhận được thông tin văn bản cần được cấp tống đạt. Ngày 26/04/2024, Tòa án tiến hành ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên phương tiện thông tin đại chúng và yêu cầu Ngân hàng làm thủ tục đăng tin. Ngày 06/05/2024, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S có công văn phúc đáp không đồng ý thực hiện đăng tin thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông K với lý do đã ghi đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của ông K, do ông K không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú không thông báo với Ngân hàng nhằm mục đích che giấu địa chỉ.

Do vậy, căn cứ Điều 97 và Điều 169; khoản 1,2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự 2016, ngày 10/05/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng để đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng.

Ngày 24/05/2024, Ngân hàng S có công văn phúc đáp đối với Thông báo trên với nội dung: không đồng ý thực hiện thông báo về việc đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng và nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng để đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày 06/03/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng S; Địa chỉ trụ sở: Số 266 – 268 N, Phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D- Tổng Giám đốc.; Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng S (Theo Giấy Ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Tổng giám đốc Ngân hàng S về việc ủy quyền ký hợp đông/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng). Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H - Nhân viên.

* Bị đơn: Ông K, sinh năm 1979; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại cụm A xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số 36, B, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

2. Về án phí: Hoàn trả lại Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là 1.443.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn đồng) theo Biên lai số 0004979 ngày 06 tháng 03 năm 2024.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ