vanban.org

Quyết định 136/2022/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 105/2022/QĐST-DS ngày 12/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp (theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Lê Thành Huân"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 105/2022/QĐST-DS ngày 12/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 136/2022/QĐ-PTĐồng Nai, ngày 22 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Thế Phương;

Các Thẩm phán:

Ông Trần Phương Đông;

Ông Nguyễn Xuân Quang.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 105/2022/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2022.

Tòa án nhân dân huyện T đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở: Số 2xx, đường N, phường y, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Th D – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện:

1. Ông Phạm Đức D – Giám đốc trung tâm thẻ S.

2. Bà Hồ Thị Minh T – Phó giám đốc trung tâm thẻ S.

(Giấy ủy quyền số 1756 ngày 22/6/2021).

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1996.

Địa chỉ liên lạc: Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng giao dịch LT – Tổ 2, khu H, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

(Giấy ủy quyền số 24 ngày 07/4/2022).

- Bị đơn: Ông Lê Thành H, sinh năm 1985.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp Bà K, xã P, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Tại đơn kháng cáo ngày 14 tháng 7 năm 2022 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, kháng cáo với lý do: Ngân Hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ ông H trên hợp đồng nhưng do ông H không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho Ngân hàng không biết được nhằm mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với Ngân hàng, Tòa án nhân dân huyện LT phải căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết, không đình chỉ vì lý do không tống đạt được cho bị đơn; không thể xem chi phí thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là chi phí tố tụng, Ngân hàng không yêu cầu thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên việc đình chỉ vụ án là không đúng với quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ số: 105/2022/QĐST-DS ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện LT.

XÉT THẤY:

Quá trình giải quyết vụ án, việc đình chỉ giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm và kháng cáo của đương sự:

1.1. Quá trình giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Lê Thành H, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Ấp Bà K, xã P, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Tòa án nhân dân huyện LT đã thụ lý vụ án dân sự số: 74/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Qua xác minh của Tòa án nhân dân huyện LT: Công an xã P cung cấp thông tin “Ông Lê Thành H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Bà K, xã P, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. nhưng đến ngày 27/7/2016 ông H đã cắt và chuyển hộ khẩu đến tổ 12, ấp G, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay ông H không còn đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại địa phương” (Bút lục 105), Công an xã LA cung cấp thông tin “Ông Lê Thành H không có đăng ký hộ khẩu tại tổ 12, ấp G, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay ông H cũng không sinh sống tại địa phương” (Bút lục 104).

Như vậy, theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp và địa chỉ ghi trên hợp đồng tín dụng thì ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Bà K, xã P, huyện LT, tỉnh Đồng Nai nhưng đã thay đổi nơi cư trú, nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ mới của ông H ở đâu.

1.2. Hội đồng phúc thẩm nhận định như sau:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo đã chuyển đến nơi cư trú mới…Nếu họ không thông báo cho Tòa án biết về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới thì Tòa án thực hiện theo quy định tại Diều 179 và Điều 180 của Bộ luật này”.

Khoản 1 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Việc thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện khi pháp luật quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo”.

Trong vụ án này, ông H không còn địa chỉ ghi trong hợp đồng tín dụng, không ai biết địa chỉ ông H đang ở đâu nên việc niêm yết công khai tại địa chỉ cũ sẽ không đảm bảo cho người được niêm yết nhận được thông tin về về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo. Việc Tòa án nhân dân huyện LT ra Thông báo cho nguyên đơn Ngân hàng nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng để thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng, nhưng Ngân hàng thương mại cổ phần S có Công văn số 182 ngày 30/6/2022 và người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng có bản tự khai, nội dung là không đồng ý nộp tạm ứng chi phí tố tụng để thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Như vậy, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo quy định, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, cho thấy kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo không được chấp nhận, nên nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu án phí phúc thẩm.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu và kết luận quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của cấp sơ thẩm là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, giữ nguyên quyết định đình chỉ số: 105/2022/QĐST-DS ngày 12/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện LT.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 105/2022/QĐST-DS ngày 12/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp (theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006002 ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LT) sẽ được tính trừ vào án phí phúc thẩm, như vậy Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp xong án phí phúc thẩm.

3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ