- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Trương Thị N-Nguyễn Thị Kim C"
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! ! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Số: 134/2020/QĐ – PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 3 năm 2020 |
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!!
QUYẾT!ĐỊNH!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với!Hội!đồng!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Kim Thương.
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Tường
Bà Huỳnh Thị Như Hà
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 415/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2019.
Tòa án nhân dân quận K đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị N, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Số 300/10 đường H, Phường U, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số 510 đường S, Phường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đường Cóc V, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số 83/149A đường L, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Đường Cóc V: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1981, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 10 tháng 7 năm 2019). 2. Ông Trần Biển L, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số 46/7 đường T, Phường P, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của ông Trần Biển L: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1981, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 10 tháng 7 năm 2019). 3. Ông Vũ Ngọc B, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số 510 đường S, Phường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Ông Đào Văn E, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số 128/12 đường Đ, Phường I, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đơn kháng cáo ngày 27 tháng 11 năm 2019, nguyên đơn là bà Trương Thị N có đơn kháng cáo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 415/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2019. !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!XÉT!THẤY:! [1] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03722 do UBND quận K cấp ngày 11/7/2011 thì nhà, đất tại số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim C. Ngày 22/7/2011, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận K đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu sang tên ông Đường Cóc V. [2] Ngày 7/4/2014, Tòa án nhân dân quận K, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” đối với căn nhà số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim C và bị đơn là ông Đường Cóc V, đã tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C và buộc bà C phải giao căn nhà số 110 Q, phường H, quận K cho ông Đường Cóc V; Bà C đã kháng cáo bản án số 133/2014/DS-ST ngày 7/4/2014 của Tòa án nhân dân quận K. [3] Tại bản án dân sự phúc thẩm số 1017/2014/DSPT ngày 19/8/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 133/DS-ST ngày 7/4/2014 của Tòa án nhân dân quận K nêu trên và buộc bà C phải giao nhà số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Đường Cóc V ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. [4] Ngày 19/5/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có Thông báo số 727/TB-TA là không có căn cứ Kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 1017/2014/DS-PT ngày 19/8/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 90/2019/QĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 724/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/10/2018 của Tòa án nhân dân Quận X về việc yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà số 110 đường Q, phường H, quận K giữa ông Vũ Ngọc B, bà Nguyễn Thị Kim C, ông Đào Văn E, bà Trương Thị N và ông Đường Cóc V.
[6] Ngày 29/10/2019, Tòa án nhân dân quận K đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 415/2019/QĐST-DS, quyết định này đã bị bà N kháng cáo.
[7] Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Đối tượng tranh chấp trong vụ án này là tài sản nhà đất tại số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản này đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật (bản án số 1017/2014/DS-PT ngày 19/8/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trương Thị N, đề nghị giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 415/2019/QĐST-DS của Tòa án nhân dân quận K.
[8] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị N, nhận thấy: Nhà, đất căn nhà số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh đã được bà Nguyễn Thị Kim C chuyển nhượng cho ông Đường Cóc V đúng theo quy định của pháp luật và cũng đã được giải quyết bằng Bản án dân sự phúc thẩm số 1017/2014/DS9PT ngày 19/8/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật. Việc Tòa án nhân dân quận K nhận định: vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa ông Vũ Ngọc B và bà Nguyễn Thị Kim C”; vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” giữa bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đường Cóc V; vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa bà Trương Thị N và bà Nguyễn Thị Kim C đều có liên quan đến một tài sản là nhà, đất số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Tài sản này đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án nhân dân quận K không giải quyết yêu cầu tranh chấp của bà N, bà C đối với nhà đất số 110 đường Q, phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh và đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng, vì thuộc trường hợp “sự việc đã giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Từ những căn cứ trên, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Căn cứ vào Điều 314, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị N. 2.Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 415/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận K, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Án phí phúc thẩm: Bà Trương Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2019/0020171 ngày 06 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K. !4.!Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Nơi!nhận:
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
- Tòa án nhân dân tối cao;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận K;
- Tòa án nhân dân quận K;
- Các đương sự (để thi hành);
Võ!Thị!Kim!Thương
- Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án.!!!!!!