- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Dương H khởi kiện bà Nguyễn A về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 161/2019/KN-DS ngày 08/4/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”giữa nguyên đơn là ông Dương H với bị đơn là bà Nguyễn A.
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 133/2019/DS-GĐT Ngày: 06-6-2019 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Cường.
Các Thẩm phán:
Ông Tô Chánh Trung.
Ông Đặng Văn Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lí – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phổ Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Dương H, sinh năm 1983.
Địa chỉ: 77/2A khu vực Y, phường B, quận R, thành phố T.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn A, sinh năm 1975.
Địa chỉ: 180AB1 đường X, phường B, quận K, thành phố T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Nguyễn A là chủ Doanh nghiệp tư nhân xăng dầu T nhiều lần mua xăng dầu của Công ty R (nơi ông H làm việc) nên từ đó mà hai bên quen biết nhau. Do bà A còn nợ tiền của Công ty nên bà A có vay của ông H số tiền 1.500.000.000 đồng để trả nợ cho Công ty R, thời hạn vay 25 ngày kể từ ngày 15/3/2017 đến ngày 10/4/2017, lãi suất theo lãi suất của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Chi nhánh T. Việc vay tiền được lập thành hợp đồng, có công chứng tại Văn phòng công chứng C ngày 16/3/2017.
Quá trình thực hiện hợp đồng và sau khi đến hạn trả nợ bà A không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn vốn và tiền lãi nên ông H khởi kiện yêu cầu bà A trả số tiền vốn và tiền lãi tổng cộng 1.556.250.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bà A nhưng bà A vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bà A đối với yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2018/DS-ST ngày 24/05/2018, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ quyết định:
Buộc bà Nguyễn A trả cho ông Dương H 1.660.875.000 đồng. Trong đó, tiền vay gốc 1.500.000.000 đồng và tiền lãi 160.875.000 đồng. Kể từ khi ông H có đơn yêu cầu thi hành án mà bà A chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, do không có kháng cáo, kháng nghị nên Bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Ngày 20/8/2018, bà Nguyễn A có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Ngày 08/4/2019, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 161/2019/KN-DS về việc kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ để xét xử sơ thẩm lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Căn cứ vào hợp đồng vay tiền có công chứng số 596 ngày 16/3/2017, thể hiện: giữa ông Dương H và bà Nguyễn A có giao kết về việc ông H cho bà A vay số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 15/3/2017 đến ngày 10/4/2017 với lãi suất thỏa thuận trên cơ sở lãi suất của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Ông H cho rằng đến hạn nhưng bà A không trả nợ nên đã khởi kiện yêu cầu bà A trả số tiền trên và tiền lãi theo thỏa thuận.
. Xét thấy: Về tố tụng: Tại Hợp đồng vay tiền ngày 16/3/2017 thể hiện bà Nguyễn A có địa chỉ cư trú tại 180AB1 đường X, phường B, quận K, thành phố T. Tại Đơn khởi kiện ngày 16/8/2017, ông Dương H khởi kiện bà Nguyễn A tại địa chỉ số 180AB1 đường X, phường B, quận K, thành phố T. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm lại thực hiện việc cấp tống đạt văn bản tố tụng đối với bà A tại địa chỉ 182AB1 đường X, phường B, quận K, thành phố T là không đúng địa chỉ thường trú của bà Anh. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bà A là không đúng pháp luật.
. Về nội dung: Qua xem xét Hợp đồng vay tiền ngày 16/3/2017, thể hiện giữa các đương sự có giao kết vay số tiền 1.500.000.000 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ việc các đương sự đã giao nhận tiền hay chưa?. Tại Đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm ngày 20/8/2018, bà Nguyễn A cho rằng việc ký hợp đồng vay số tiền trên là giả tạo nhằm che giấu cho việc hợp thức hóa mua bán xăng dầu giữa bà Nguyễn A – Chủ DNTN xăng dầu T với Công ty R, thực chất bà A không nhận tiền của ông H. Bà A vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, do Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng địa chỉ của bà A nên bà A không trình bày được ý kiến của mình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc giao nhận số tiền trên. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào Hợp đồng vay tiền ngày 16/3/2017 để buộc bà A phải trả số tiền 1.500.000.000 đồng và tiền lãi cho ông H là chưa đủ căn cứ pháp lý vững chắc.
. Mặt khác, về lãi suất trong hợp đồng vay tiền còn thể hiện lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận dựa trên lãi suất theo quy định của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh T. Vì vậy, cần thiết phải có ý kiến của bà A mới có căn cứ xác định mức lãi suất phù hợp với thỏa thuận của các bên khi xem xét giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 161/2019/KN-DS ngày 08/4/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”giữa nguyên đơn là ông Dương H với bị đơn là bà Nguyễn A.
2. Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 42/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Chánh án (để b/c); - Phó Chánh án phụ trách (để b/c); - VKSNDCC tại TPHCM; - TAND quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ; - Chi cục THADS quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu Phòng GĐKT II, HS; THS (P.T.L) | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Võ Văn Cường |