- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Nguyệt M và anh Wen Jq.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------- Số: 132/2021/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc:Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Tiến Phong.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Mai Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 130/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 188/2021/QĐ-MPH ngày 22 tháng 10 năm 2021, giữa:
Người yêu cầu.
- Chị Bùi Thị Nguyệt M, sinh năm 1982. Số Căn cước công dân: 0011820260ab. Ngày cấp: 15/3/2018. Nơi cấp: Cục CSQL cư trú và DLQG về cư dân. Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Số 7 ngõ 10 phố T, phường K, quận H, thành phố Hà Nội.
- Anh Wen Jq, sinh năm 1979; quốc tịch: Trung Quốc. Số hộ chiếu: D609262cd. Ngày cấp: 15/10/2015. Nơi cấp: Tỉnh Quảng Đông. Chỗ ở hiện nay: P403 Tòa A Đông T, Uyển Lục, thành phố Đ, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn ly hôn và bản tự khai chị Bùi Thị Nguyệt M trình bày: Chị và anh Wen Jq sau thời gian tìm hiểu và yêu nhau từ năm 2018, đến ngày 17/6/2019 anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng có thời gian chung sống cùng nhau ngắn do công việc và khoảng cách địa lý, lại thêm dịch bệnh Covid nên khó gặp nhau. Sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, lối sống và tính cách đã đẩy anh chị tới sự mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và bạn bè khuyên ngăn, hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng không có tiếng nói chung nên dần tình cảm bị phai nhạt. Nay anh chị cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Wen Jq trình bày: Tôi và cô M đăng ký kết hôn ngày 17/6/2019 tại UBND quận H, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do những khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, tính cách và lối sống nên không thể hòa hợp được. Nay anh Wen Jq xác định tình cảm với chị M không còn nên đề nghị Tòa án công nhận cho 2 anh chị được thuận tình ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.
Tại phiên họp, chị Bùi Thị Nguyệt M giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Anh Wen Jq đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt vì hiện đang ở Trung Quốc, không về Việt Nam được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Hôn nhân của chị Bùi Thị Nguyệt M và anh Wen Jq có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Nay anh chị cùng xác định không còn tình cảm với nhau nữa và mong muốn ly hôn; con chung: Không có; tài sản chung và vay nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, đây là thỏa thuận của hai bên đương sự phù hợp với quy định của pháp luật do vậy đề nghị Tòa án chấp thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về tố tụng: Chị Bùi Thị Nguyệt M và anh Wen Jq có đề nghị công nhận thuận tình ly hôn. Anh Wen Jq hiện nay đang sinh sống tại Trung Quốc nên theo quy định tại Điều 29, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị Nguyệt M và anh Wen Jq do cả 02 cùng tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/6/2019 tại UBND quận H, thành phố Hà Nội theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam nên được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn của anh chị phát sinh do vợ chồng sống xa nhau, lại thêm khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, lối sống và tính cách nên không thể hòa hợp được. Nay cả 02 anh chị cùng xác định không còn tình cảm với nhau nữa và mong muốn chấm dứt hôn nhân.
Xét thấy, hôn nhân của hai anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của hai anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và vay nợ chung: Anh chị đều xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Chị Bùi Thị Nguyệt M tự nguyện chịu cả tiền lệ phí ly hôn.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 67, Điều 143, 146, 149, 367, 369, 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Nguyệt M và anh Wen Jq.
Chị Bùi Thị Nguyệt M và anh Wen Jq được chấm dứt hôn nhân.
2. Công nhận các thỏa thuận khác của 02 đương sự như sau:
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí: Chị Bùi Thị Nguyệt M tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí ly hôn; số tiền trên được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000348 ngày 19/10/2021 của Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ban hành./.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thành phố Hà Nội; -UBND quận H; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Ngô Tiến Phong |