- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Đổng Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 130/2019/QĐ-TA | Nhà bè, ngày 04 tháng 1 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hồng.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đỗ Hoàng Trung.
Ngày 04 tháng 1 năm 2019, tại Trụ sở Cơ sở xã hội Nhị Xuân, thành phố Hồ Chí Minh - địa chỉ số số 189E xã Xuân Thới Sơn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 124/2018/QĐ-TA-MPH ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Đổng Thành T, sinh năm 1999 tại Kiên Giang; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nguyên quán: An Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã L, huyện P, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Con ông Đổng Thành T và bà Võ Thị Bé B; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; (Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Cơ quan đề nghị: Trưởng phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh – Ông Nguyễn Kim Ngọc;
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 16 tháng 11 năm 2018, Cơ quan Công an phát hiện ông Đổng Thành T (sau đây gọi tắt là ông T) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu ông T về trụ sở Công an xã P, huyệnNB, thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo quy định của pháp luật. Công an xã P, huyệnNB đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ông T thừa nhận là người nghiện ma túy đá dưới hình thức là hút; thời điểm ông T sử dụng trái phép chất ma túy lần đầu là từ năm 2015 cho đến khi bị Cơ quan công an phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy lần này.
Công an xã P, huyệnNB đã phối hợp với Trạm y tế xã P, huyệnNB thực hiện việc xét nghiệm chất ma túy đối với ông T, tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 16/11/2018 đã cho kết quả xác định: “Ông T dương tính với ma túy” và xác định ông T là người đã sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/11/2018 của Bác sĩ chuyên môn thuộc Cơ sở xã hội Nhị Xuân, thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận và xác định: “Ông T là người có nghiện ma túy”.
Cơ quan lập hồ sơ là Ủy ban nhân dân xã P, huyệnNB và Công an xã P, huyệnNB, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú và lý lịch cá nhân đối với ông T như ông T đã khai về nơi cư trú.
Kết quả xác minh đã xác định được ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện P, tỉnh An Giang nhưng thực tế không có cư trú tại địa phương và thường xuyên vắng mặt tại địa phương, ông T sống lang thang không nơi cư trú nhất định. Ông T không có nơi ở nhất định và không còn nơi cư trú nào khác.
Công an xã P, huyệnNB đã ban hành Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T và đã giao thông báo cho ông T.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyệnNB, thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội Nhị Xuân để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T (Quyết định số: 338/QĐ-UBND ngày 16/11/2018), đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyệnNB đã có văn bản đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T (Văn bản số: 405/TB-UBND ngày 12/12/2018) và gửi hồ sơ đến Trưởng phòng Tư pháp Huyện Nhà Bè để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ.
Trưởng phòng Tư pháp huyện Nhà Bè đã kiểm tra tính pháp lý đối với hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T; tại Thông báo số: 132/TB-PTP ngày 17/12/2018, Trưởng phòng Tư pháp huyện Nhà Bè đã kết luận hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T đã đảm bảo tính pháp lý, có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ đến Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè xem xét, quyết định chuyển hồ sơ và đề nghị đến Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.
Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè đã có văn bản số 344/LĐTBXH ngày 21/12/2018 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T và quyết định chuyển hồ sơ đề nghị đến Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp:
Cơ quan đề nghị có ông Nguyễn Kim Ngọc Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè trình bày: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 với thời gian cai nghiên ma túy là từ 12 tháng đến 24 tháng.
Người bị đề nghị là ông T trình bày: Ông T xác nhận bản thân là người nghiện ma túy và đồng ý đi cai nghiện ma túy.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ, quyết định mở phiên họp, việc tống đạt các thông báo, quyết định của Tòa án cho cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và Viện kiểm sát đảm bảo đúng thời hạn quy định; thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc đảm bảo đúng quy định; về trình tự, thủ tục diễn biến tại phiên họp đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Thẩm phán được phân công giải quyết hồ sơ đã chấp hành đúng Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/1/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Hồ sơ vụ việc có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè giải quyết theo hướng đồng ý đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính của Công an xã P, huyệnNB, thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 16/11/2018 đối với ông T, bản tường trình và lời trình bày tại phiên họp ông T đã thừa nhận là người nghiện ma túy.
Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy lập ngày 16/11/2018 tại Công an xã P, huyệnNB, thành phố Hồ Chí Minh và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/11/2018 của Bác sĩ chuyên môn thuộc Cơ sở xã hội Nhị Xuân, thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận xác định: “Ông T có nghiện ma túy”.
Căn cứ vào kết quả xác minh về tinh trạng cư trú của ông T, bản lý lịch cá nhân của ông T đã xác định được ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện P, tỉnh An Giang nhưng thực tế không có cư trú tại địa phương và thường xuyên vắng mặt tại địa phương, ông T sống lang thang không nơi cư trú nhất định. Ông T không có nơi ở nhất định và không còn nơi cư trú nào khác. Như vậy đã xác định được ông T là người không có nơi cư trú ổn định.
Tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.
Tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.”
Tại khoản 1 Điều 2 và điểm c khoản 1 Điều 8 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã quy định: “1. Nơi cư trú ổn định là nơi người vi phạm thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường xuyên sinh sống”.
Từ những phân tích nêu trên đã xác định ông T là người nghiện ma túy thuộc diện: Không nơi cư trú ổn định.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông T là người nghiện ma túy thuộc diện không có nơi cư trú ổn định bị Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là đúng với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và tại các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13 và 14 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu: Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T đã đảm bảo đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính và tại Điều 4 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Ông T không phải chịu tình tiết tăng nặng, không được hưởng tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên có xem xét cho ông T về việc đã khai báo thành khẩn về hành vi vi phạm trong vụ việc này.
Xét hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T về trình tự thủ tục lập hồ sơ đảm bảo đúng và đầy đủ theo quy định pháp luật. Việc Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật, nên được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè chấp nhận.
Tình trạng nghiện ngập ma túy hiện nay đang là tệ nạn của xã hội, là tiền đề và là nguyên nhân làm phát sinh các vi phạm pháp luật khác. Cũng như hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông T là đã vi phạm Luật xử lý vi phạm hành chính, vi phạm Luật phòng chống ma túy, nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T trong một khoảng thời gian nhất định để tạo điều kiện cho ông T cai nghiện ma túy. Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là nhằm mục đích ngăn chặn họ không tiếp tục vi phạm pháp luật và phạm tội, đồng thời giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh sống, chữa bệnh, sinh hoạt lành mạnh.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng vào khoản 3 Điều 2; khoản 2 Điều 3; khoản 2 Điều 5; khoản 2 Điều 6; Điều 9; Điều 10; Điều 95; Điều 96; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107; khoản 2, khoản 3 Điều 108; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ vào Điều 2; khoản 1 Điều 3; Điều 22; Điều 23; Điều 24; khoản 1 Điều 29; Điều 30 và Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Áp dụng vào Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Áp dụng vào Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Đổng Thành T.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy số 3.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Đổng Thành T là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 16 tháng 11 năm 2018.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Ông Đổng Thành T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Trưởng phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị quyết định này trong thời hạn là 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn là 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh đưa ông Đổng Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát ND huyện Nhà Bè; - Trưởng Công an huyện Nhà Bè; - Trưởng phòng LĐ-TB-XH huyện Nhà Bè; - Chủ tịch UBND xã P, huyệnNB; - Người bị đề nghị (ông Đổng Thành T); - Lưu văn phòng, hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Việt Hồng |