- Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với PhA A.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/QĐ-TA | Thành phố H, ngày 22 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Thống.
2. Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Kim Lài.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Đồng Tháp tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 11/QĐ-TA ngày 09 tháng 5 năm 2023, đối với:
- Họ và tên: PhA A.
- Sinh năm 1998.
- Nghề nghiệp: Không.
- Quốc tịch: Việt Nam.
- Dân tộc: Kinh.
- Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: 02/12.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Chổ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
- Tiền sự, tiền sự: Chưa có.
- Con ông PhA M và bà Nguyễn N.
(Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quA đề nghị: Bà PhA Thị Mỹ Đầy, là cán bộ Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố H.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Ông PhA Thái Trung, là Kiểm sát viên.
3. Những người khác:
3.1. Đại diện Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp: Ông Nguyễn Ngọc Lâm – Trưởng phòng bảo vệ quản lý học viên.
3.2. Đại diện Công A phường D (vắng mặt).
NHẬN THẤY:
PhA A đã đủ 18 tuổi trở lên, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện nay sống lAg thAg, không có nơi cư trú ổn định. Bản thân A đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017.
Ngày 02/5/2023, nghi ngờ A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công A phường D mời về làm việc thì A thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (ma túy đá), lần sử dụng gần nhất vào ngày 01/5/2023 tại khu vực khóm 1, phường D, thành phố H, nên Công A phường D tiến hành lập Biên bản vi phạm số: 14/BB-VPHC ngày 02/5/2023 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực A ninh, trật tự, A toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình.
Thực hiện theo Thông tư liên tịch số: 18/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 của Bộ y tế quy định về tiêu chuẩn chẩn đoán và quy trình chuyên môn để xác định tình trạng nghiện ma túy, Công A phường D tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy đối với A tại Bệnh viện đa khoa khu vực H, kết quả A nghiện ma túy đá (chất Methamphetamin và Morphin/Heroin).
Công A phường D tiến hành xác minh độ tuổi, nơi cư trú của PhA A thể hiện A đã trên 18 tuổi, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện nay sống lAg thAg, không có nơi cư trú ổn định.
Ngày 02/5/2023, Công A phường D ra Thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A, đồng thời đề nghị Chủ tịch Ủy bA nhân dân phường ra quyết định giao cho Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời giA làm thủ tục. Cùng ngày, Chủ tịch Ủy bA nhân dân phường A Lạc ra quyết định giao cho Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp quản lý PhA A trong thời giA làm thủ tục đưa vào sơ sở điều trị nghiện bắt buộc.
Ngày 23/12/2022, Ủy bA nhân dân phường D có văn bản gửi đến Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với PhA A.
Ý kiến của đại diện cơ quA đề nghị: Đối tượng PhA A đã trên 18 tuổi, đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện nay sống lAg thAg, không có nơi cư trú ổn định. Ngày 01/5/2023, A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 02/5/2023 bị Công A phường D, thành phố H lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời được Bệnh viện đa khoa khu vực H xác định A đã nghiện ma túy (chất dạng Methamphetamin và Morphin/Heroin). Từ cơ sở trên, ngày 08/5/2023 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố H có văn bản và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân thành phố H đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với PhA A.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: PhA A đã nghiện ma túy và được người có thẩm quyền của Bệnh viện đa khoa khu vực H xác định (chất Methamphetamin và Morphin/Heroin), tại thời điểm nghiện ma túy A đã trên 18 tuổi, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện nay sống lAg thAg, không có nơi cư trú ổn định. Đồng thời bị công A phường A Lạc, thành phố H lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi bổ sung năm 2020); Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và các văn bản có liên quA. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A, thời hạn từ từ 12 tháng đến 14 tháng.
Đối với người bị đề nghị PhA A thừa nhận đã bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017, đã nghiện ma túy. Vào ngày 01/5/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 02/5/2023 bị công A phường D lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. A thừa nhận có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện nay sống lAg thAg, không có nơi cư trú ổn định.
XÉT THẤY:
Tại phiên họp hôm nay, qua trình bày của đại diện cơ quA đề nghị, phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp, xét thấy:
PhA A thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng thẩm quyền. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều Luật Phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quán lý sau cai nghiện ma túy và Nghị định số: 105/2021/NĐ-CP, ngày 04/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Phòng chống ma túy.
Về nội dung: PhA A đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017, đã nghiện ma túy. Ngày 02/5/2023, nghi ngờ A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công A phường D mời về làm việc thì A thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất ngày 01/5/2023, Công A phường D tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, được Bệnh viện đa khoa khu vực H xác định nghiện ma túy (chất Methamphetamin và Morphin/Heroin). Cùng ngày 02/5/2023, Ủy bA nhân dân phường D ra thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện cơ quA đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố H đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A, Tòa án nhân dân thành phố H xét thấy:
PhA A đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chất dạng Methamphetamin và Morphin/Heroin) đã nghiện ma túy, được Bệnh viện đa khoa khu vực H xác định và tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy thì A đã trên 18 tuổi, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện nay sống lAg thAg, không có nơi cư trú ổn định.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của A là xem thường kỹ cương pháp luật. Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy đAg làm hủy hoại sức khỏe của chính người dùng, xóay mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.
Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, suy thoái nhân cách, phẩm giá người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến cả gia đình của họ, khiến mất dần khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho xã hội. Tác hại của ma túy còn khiến cho A ninh, trật tự, quốc phòng bất ổn, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, vắt kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt tiềm năng quý báo mà lẽ ra phải được huy động phát triển kinh tế xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
Từ những hậu quả nguy hại trên, nên cần phải đưa PhA A vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc một thời giA nhất định theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Điều 37 và Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP, ngày 04/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Phòng chống ma túy; Điều 40 và Điều 41 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều Luật Phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quán lý sau cai nghiện ma túy; Điều 23 Pháp lệnh số: Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, để có đủ điều kiện cai nghiện và giáo dục, giúp cho PhA A có được sức khỏe tốt, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố H chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Về tình tiết giảm nhẹ: PhA A tự nguyện khai báo hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đồng thời đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố H. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp như nhận định trên, nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 6, 9, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ các Điều 27 và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với PhA A.
2. Thời giA chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 02 tháng 5 năm 2023).
3. Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp.
4. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố H có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Cơ quA thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố H phối hợp với Công A thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. H; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH Tp. H; - Trưởng Công A Tp. H; - Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp; - UBND phường D; - Công A phường D; - UBND xã C; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Minh Thống |