vanban.org

Quyết định 13/2024/QĐ-TA

TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Tuyên án 14/06/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở Chăm sóc và Phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
Số: 13/2024/QĐ-TA
Bắc Quang, ngày 14 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG - TỈNH HÀ GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hà Tuấn Vĩnh .

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 14/2024/QĐ-TA ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với:

Bùi Xuân T, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1984; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Số CCCD: 002084001771; cấp ngày: 20/4/2021; nơi cấp: Cục C1 về TTXH. Con ông Bùi Văn C và bà Sái Thị N. Tiền án, tiền sự: Không. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (Hiện được giao cho Cơ sở Chăm sóc và Phục hồi chức năng người tâm thần – Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang quản lý). (Vắng mặt, có đơn đề nghị xem xét vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đặng Thị P - Chuyên viên phòng Lao động

- Thương binh và xã hội huyện B.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Hà Thị Thuỷ - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang.

3. Những người khác: Không.

NHẬN THẤY:

Bùi Xuân Trường bị Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện B đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi vi phạm như sau:

Ngày 21/4/2024, Công an thị trấn V, huyện B phát hiện Bùi Xuân T, sinh năm 1984, trú tại Tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, công an thị trấn V, huyện B đã tiến hành lập biên bản và đưa T về trụ sở Công an thị trấn, phối hợp với Trạm y tế thị trấn V, huyện B xét nghiệm chất ma túy với T, kết quả xét nghiệm thể hiện Bùi Xuân T dương tính với ma túy (loại ma túy Heroine). Quá trình làm việc, tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai, T khai nhận T là người nghiện ma túy, thường xuyên sử dụng chất ma túy Heroine từ năm 2010 cho đến nay với hình thức sử dụng là hít, lần sử dụng ma túy gần nhất vào ngày 21/4/2024. Năm 2018, Bùi Xuân T tự nguyện tham gia điều trị nghiện bằng các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế methadone cho đến nay.

Ngày 24/4/2024, Trạm y tế thị trấn V, huyện B có kết quả xác nhận Bùi Xuân T nghiện ma túy Heroine. Do đó, ngày 25/4/2024, Công an thị trấn V, huyện B đã lập biên bản vi phạm đối với Bùi Xuân T về hành vi trong thời gian điều trị nghiện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý và lập hồ sơ đối với T. Cùng ngày, Chủ tịch UBND thị trấn V, huyện B ra Quyết định số: 357/QĐ-UBND về việc giao T cho cơ sở chăm sóc phục hồi chức năng người tâm thần - cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang đồng thời có văn bản đề nghị Phòng Lao động - Thương binh xã hội xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T.

Sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, ngày 04/6/2024, Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội huyện B có văn bản số: 67/ĐN-LĐTBXH đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Chăm sóc và Phục hồi chức năng người tâm thần

- Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang đối với Bùi Xuân T và đã chuyển toàn bộ hồ sơ tới Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Bùi Xuân T với thời hạn là 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang đã thực hiện theo đúng quy định tại Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy đưa Bùi Xuân T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 22 (hai mươi hai) tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:

[1] Tại phiên họp, Bùi Xuân T vắng mặt, có yêu cầu xem xét vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của UBTVQH quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

[2] Về thẩm quyền: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Xuân T, trú tại tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang là Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang có thẩm quyền xem xét yêu cầu nêu trên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của UBTVQH quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

[3] Về thời hiệu: Ngày 21/4/2024, Bùi Xuân T sử dụng ma túy thì bị công an thị trấn V phát hiện, đến ngày 14/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang mở phiên họp xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[4] Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 41, Điều 42 và Điều 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.

[5] Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận: Bùi Xuân T là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc thay thế methadone đã sử dụng trái phép chất ma tuý, T có nơi cư trú ổn định, nhận thức được việc nghiện ma túy của mình là ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và tình hình trật tự an toàn xã hội nhưng không từ bỏ được ma túy. Vì vậy, Bùi Xuân T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

[6] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Bùi Xuân T thấy rằng: Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc Bùi Xuân T đã “tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”, phối hợp với các cơ quan tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó Bùi Xuân T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Ngoài ra không có tình tiết tăng nặng.

[7] Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Hành vi vi phạm của Bùi Xuân T đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

Xét thấy đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang là có căn cứ nên được chấp nhận. Do vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T với thời gian cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng để đảm bảo cho Bùi Xuân T cắt được cơn nghiện, sớm tái hòa nhập cộng đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9; các Điều 95, Điều 96; khoản 2 Điều 105 và điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân T.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở Chăm sóc và Phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang tại thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B kết hợp với Công an huyện B thi hành quyết định này.

Cỡ chữ