vanban.org

Quyết định 13/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị M “Yêu cầu tuyên bố một người mất tich” đối với ông Nguyễn Văn Đạt.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa mất tích từ năm 2014. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐ giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị M “Yêu cầu tuyên bố một người mất tich” đối với ông Nguyễn Văn Đạt.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH THANH HOÁ
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2023/QĐST-VDS
Ngày 15/3/2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Cao Thị Nga.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hc tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số 73/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc yêu cầu“Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp số 22/2023/QĐST-DS ngày 06 ngày 3 tháng 2023; Gồm những người tham gia tố tụng sau:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị M, sinh năm 1965

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990

Đều có địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

* Theo đơn yêu cầu ngày 04/10/2022 của bà Trương Thị M, bản tự khai ngày 18/10/2022 của anh Nguyễn Văn T là người đại diện theo uỷ quyền của bà M trình bày:

Bà Trương Thị M và ông Nguyễn Văn Đ kết hôn năm 1984 tại UBND xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hoá và sinh được hai người con là Nguyễn Thị S, sinh năm 1986 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1990. Năm 2014 ông Nguyễn Văn Đ bỏ nhà đi từ đó cho đến nay không liên lạc về với gia đình, gia đình cũng không liên lạc được với ông Đ. Kể từ đó đến nay gia đình không ngừng tìm kiếm nhưng vẫn không có một tin tức gì về ông Đ. Để đảm bảo quyền lợi, bà M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện H tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ mất tích.

*Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên họp:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, thư ký phiên họp và người yêu cầu trong quá trình giải quyết việc “tuyên bố một người mất tích” kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu: Từ khi thụ lý cho đến trước thì điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, người yêu cầu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 362 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị M tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứcó trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại điện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc nhận định:

Về tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là ông Nguyễn Văn Đ, sinh nnăm 1962; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Về nội dung: Bà Trương Thị M và ông Nguyễn Văn Đ đăng ký kết hôn năm 1984 tại UBND xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Thị M và ông Nguyễn Văn Đ là hợp pháp. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự bà Trương Thị M có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ mất tích.

Căn cứ vào đơn xin xác nhận nơi cư trú cuối cùng của bà Trương Thị M ghi ngày 05/5/2022 có xác nhận của Trưởng thôn L, UBND xã L và Công an xã L, huyện H xác nhận ông Nguyễn Văn Đ không có mặt tại địa phương từ năm 2014 cho đến nay, gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức. Theo biên bản xác minh ngày 25/10/2022 tại Công an xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa xác nhận từ năm 2014 đến nay ông Nguyễn Văn Đ biệt tích không có mặt tại địa phương.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã đăng tin thông báo tìm kiếm ông Nguyễn Văn Đ trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 03,04 và 05 tháng 11 năm 2022 và các trang báo nhân dân ba số liên tiếp trong các ngày 05,06 và 07 tháng 11 năm 2022.Việc đăng tải ba thông báo tìm kiếm ông Nguyễn Văn Đ đến nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Nguyễn Văn Đ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định: "Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích..." Như vậy có đủ cơ sở kết luận ông Nguyễn Văn Đ biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Nguyễn Văn Đ còn sống hay đã chết. Từ căn cứ nêu trên cần chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị M về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa mất tích từ năm 2014.

Về lệ phí: Bà Trương Thị M phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 388; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự;

Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị M “Yêu cầu tuyên bố một người mất tich” đối với ông Nguyễn Văn Đạt.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa mất tích từ năm 2014.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà M đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0008983 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Bà Trương Thị M đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trương Thị M có quyền kháng cáo Quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ