vanban.org

Quyết định 13/2022/QĐ-TA

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/10/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng cá…

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đào Duy C, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn L, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLVPHC"
  • Tòa quyết gì? 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng cá…
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2022/QĐ-TAT, ngày 25 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Giáp Quang Huy.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

Ngày 25/10/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T tiến hành phiên họp

xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 17/QĐ-TA ngày 05/10/2022 đối với:

Họ và tên: Đào Duy C, sinh năm 1974; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn L,

xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang; số CMND121611939, nơi cấp: Công an tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Đào Xuân Ch, sinh năm 1947 và bà Vi Thị Th, sinh năm 1946.

Những người tham gia phiên họp:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trương Bắc L – Chức vụ: Trưởng phòng

Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh Bắc Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Bà Nguyễn Thị Huệ – Kiểm

sát viên.

3. Những người khác tham gia phiên họp: Anh Đào Duy C (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình ngày 15/9/2022 và các lời khai tiếp theo, anh Đào Duy C

khai: Anh C bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018. Ngày 15/9/2022, anh C bị Công an xã Ph lập biên bản làm việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/9/2022 của Trạm Y tế xã Ph xác định anh C nghiện ma túy heroin. Ngày 15/9/2022, Công an xã Ph lập biên bản làm việc yêu cầu anh C trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về tình trạng nghiện phải đi đăng ký tham gia điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (thuốc methadone) tại Trung tâm Y tế huyện T hoặc cơ sở y tế được Bộ y tế cấp phép hoặc đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng ở cơ sở cung cấp dịch vụ cai nghiện tự nguyện được cấp phép. Đến ngày 26/9/2022, anh C bị Ủy ban nhân dân xã Ph lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện do không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (thuốc methadone) tại Trung tâm Y tế huyện T hoặc cơ sở y tế được Bộ y tế cấp phép hoặc đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng ở cơ sở cung cấp dịch vụ cai nghiện tự nguyện được cấp phép.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T

giữ nguyên đề nghị xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đào Duy C là 24 (hai mươi tư) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Hồ sơ đảm

bảo thủ tục, đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật và đề nghị đưa anh Đào Duy C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng lao động – Thương binh xã hội huyện T là 20 (hai mươi) tháng.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã

hội huyện T, tỉnh Bắc Giang lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đào Duy C do nghiện ma túy, không tự cai nghiện. Nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản làm việc đối với anh Đào Duy C

lập ngày 15/9/2022 do anh C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 05/10/2022 Tòa án nhân dân huyện T thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị

áp dụng biện pháp cai nghiện đối với anh Đào Duy C đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị của đại diện phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T

thấy: Anh Đào Duy C là người đã thành niên, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng. Ngày 15/9/2022, anh C bị Công an xã Ph lập biên bản làm việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/9/2022 của Trạm Y tế xã Ph xác định anh C nghiện ma túy heroin. Ngày 15/9/2022, Công an xã Ph lập biên bản làm việc yêu cầu anh C trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về tình trạng nghiện phải đi đăng ký tham gia điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (thuốc methadone) tại Trung tâm Y tế huyện T hoặc cơ sở y tế được Bộ y tế cấp phép hoặc đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng ở cơ sở cung cấp dịch vụ cai nghiện tự nguyện được cấp phép. Đến ngày 26/9/2022, anh C bị Ủy ban nhân dân xã Ph lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện do không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế. Chứng tỏ, anh Đào Duy C là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của anh Clà nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Anh Đào Duy C đã vi phạm: khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 khoản 16 Điều 2; Khoản 1 Điều 96; Điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để anh Đào Duy C cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời anh Đào Duy C đồng ý đi cai nghiện bắt buộc. Cần chấp nhận một phần đề nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh Bắc Giang và đại diện Viện kiểm sát, đưa anh Đào Duy C đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang với thời hạn là 20 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc, anh Đào Duy C đã tự nguyện

khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét về tình tiết tăng nặng: Anh Đào Duy C không có tình tiết tăng nặng nào.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; điểm d khoản

2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với anh Đào Duy C, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn L, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng,

kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện.

Nơi chấp hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang; Địa chỉ:

Số 95, đường Thân Khuê, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

3. Thời hạn khiếu nại của anh Đào Duy C là 03 ngày làm việc, kể từ ngày

nhận được Quyết định; Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T là 03 ngày làm việc; thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện T phối hợp với Công an

huyện T thi hành quyết định này. Nơi!nhận:!

Cỡ chữ