vanban.org

Quyết định 13/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên!bố:!Bị cáo Nguyễn!Văn!H phạm tội "§¸nh b¹c”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 21.000.000 (Hai mươi mốt triÖu) ®ång. !Biện!pháp!tư!pháp!và!xử!lý!vật!chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN VĂN H- DÁNH BAC - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên!bố:!Bị cáo Nguyễn!Văn!H phạm tội "§¸nh b¹c”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 13/2021/HSST
Ngày 11 tháng 03 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà: Ông Hà Thiện Thành

Các!hội!thẩm!nhân!dân: Ông Đinh Công Hiến và ông Đinh Duy Quyết

!

Thư!ký!toà!án!ghi!biên!bản!phiên!toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!V,!tỉnh!N!tham!gia!phiên!toà: Ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 11/03/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/HSST ngày 05/02/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1959; tại xã G, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú xóm 9, x· G, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K vµ bµ Bùi Thị L (Đều đã chết); có vợ Đinh Thị M và có 04 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 20/12/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Tạ Việt Á, sinh n¨m 1993; Nơi cư trú thôn Đ, x· G, huyÖn V, tØnhN. (V¾ng mÆt).

Anh Vũ Nhật L, sinh n¨m 1973; Nơi cư trú thôn 6, x· G, huyÖn V, tØnh N. (V¾ng mÆt).

Anh Phạm Văn T, sinh ngày 04 tháng 01 n¨m 2003; Nơi cư trú xóm 8, x· G, huyÖn V, tØnh N. (V¾ng mÆt).

Anh Nguyễn Viết X, sinh n¨m 1964; Nơi cư trú xóm 5, x· G, huyÖn V, tØnh N. (V¾ng mÆt).

* Người làm chứng: Ông Bùi Khắc T. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn H nhận thấy việc ghi trái phép số lô, số đề cho khách qua đường mang lại nhiều lợi nhuận nên H đã ghi số lô, đề cho người chơi để kiếm lời, sau đó tổng hợp lại và thanh toán tiền thắng thua với người chơi vào ngày hôm sau.

Cách thức chơi số lô, số đề như sau: Đối với số đề 02 số, người chơi sẽ bỏ một số tiền ra để mua 02 con số từ 00 đến 99, nếu 02 con số đó trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng trong ngày thì người chơi trúng đề và được hưởng 80 lần số tiền mà họ bỏ ra để mua số đề. Đối với số lô Ninh Bình, mỗi điểm người chơi phải bỏ ra số tiền 20.000 đồng để mua 02 số, người trúng thưởng là người có số lô trùng với 02 số cuối của 27 giải kết quả xổ số kiến thiến miền bắc mở thưởng trong ngày, mỗi điểm lô mà người chơi trúng lô sẽ được hưởng 70.000 đồng (giới hạn 02 lần trúng thưởng). Đối với số lô Hà Nội, mỗi điểm người chơi phải bỏ ra số tiền 23.000 đồng để mua 02 số, người trúng thưởng là người có số lô trùng với 02 số cuối của 27 giải kết quả xổ số kiến thiến miền bắc mở thưởng trong ngày, mỗi điểm lô mà người chơi trúng lô sẽ được hưởng 80.000 đồng (không giới hạn số lần trúng thưởng). Đối với số lô xiên 2 là 02 cặp bất kỳ được so sánh với 02 số cuối của 27 giải kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng trong ngày, nếu giải thưởng có đủ 02 cặp số sẽ trúng thưởng và người trúng sẽ được hưởng gấp 10 lần số tiền mua.

Khoảng 17 giờ ngày 16/12/2020, Phạm Văn T, sinh ngày 04/01/2003, trú tại xóm 8, xã G, huyện V thấy H đang ngồi bán số lô, số đề tại nhà Hòa ở xóm 9, xã G, huyện V, T đi vào và hỏi mua các số lô, số đề, Tú nói: “Lô Hà Nội 12 là 10 điểm, lô Ninh Bình 51,91 mỗi con 02 điểm, 92, 93, 94 mỗi con 01 điểm, lô xiên hai 12, 15 là 20.000 đồng” với tổng số tiền là 390.000 đồng, H ghi số lô, số đề của T vào bảng tổng hợp số lô, số đề và đưa mảnh giấy gọi là cáp số lô, số đề cho T. T nhận cáp số lô, số đề và lấy số tiền 390.000 đồng đưa cho H. Cùng lúc này, Tạ Việt Á, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã G, huyện V đi đến mua các số lô, số đề gồm: “Lô Ninh Bình 63, 68, 89 mỗi số 50 điểm, các số đề 79, 97 mỗi số 100.000 đồng” Tổng số tiền Ánh mua các số lô, số đề trên là 3.200.000 đồng, Hòa ghi các số lô, số đề vào bảng tổng hợp, sau đó H ghi các số này vào mảnh giấy gọi là cáp rồi đưa cho Ánh, ngay lúc này Vũ Nhật , sinh năm 1973, trú tại thôn 1, xã G, huyện V đi đến mua số lô, số đề gồm: “Lô Ninh Bình 54, 59 mỗi con 50 điểm, số đề đầu 4 là 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49 mỗi số 10.000 đồng”, với tổng số tiền 2.100.000 đồng, H ghi các số trên vào bảng tổng hợp số lô, số đề, sau đó ghi những số này ra cáp rồi đưa cho L, sau khi nhận cáp xong, L và Á đang trả tiền cho H thì bị Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với công an xã G phát hiện bắt quả tang.

Thu giữ của Hòa 01 bảng lô, đề ngày 16/12/2020; 01 quyển số nhãn hiệu Hải Tiến ghi kết quả xổ số; 01 quyển số nhãn hiệu Phúc Vinh ghi kết quả xổ số; 01 bút bi mực đen; 01 bút nước chữ A mực mầu đen; 01 chiếc kéo bằng kim loại, cán bằng nhựa màu cam; 01 bàn gỗ, mặt bàn bằng kim loại; 01 ghế nhựa mầu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6; số tiền 390.000 đồng.

Quá trình kiểm tra phát hiện điện thoại Iphone 6, lắp số thuê bao 0333151748 thu của Nguyễn Văn H phát hiện ngày 18/11/2020 có nhắn tin mua bán số lô, số đề đến số thuê bao 0813395535 của Nguyễn Viết X với số tiền là 300.000 đồng; ngày 24/11/2020 X mua số lô của H là 400.000 đồng, trong đó X trúng thưởng 140.000 đồng, tổng số tiền H và X đánh bạc là 540.000 đồng; ngày 25/11/2020 X mua của H số đề là 10.000 đồng, X không trúng thưởng. X và H đã thanh toán với nhau số tiền trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H, quá trình khám xét thu giữ số tiền 55.000 đồng. Ngoài ra, thu giữ của Phạm Văn T số tiền 140.000 đồng; 01 cáp ghi số lô, số đề. Vũ Nhật L số tiền 2.100.000 đồng; 01 cáp ghi số lô số đề. Phạm Nhật Á số tiền 3.400.000 đồng; 01 cáp ghi số lô, số đề. Nguyễn Viết X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, loại bàn phím, vỏ màu đen.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Văn H sử dụng vào việc Đánh bạc ngày 16/12/2020 là 5.690.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-GV ngày 05/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Nguyễn!Văn!H ra trước Tòa án nhân dân huyện V để xét xử về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 21.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng;

Về!xử!lý!vật!chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính là 8.899.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 quyển sổ nhãn hiệu Hải Tiến; 01 quyển sổ nhãn hiệu Phúc Vinh; 01 bút bi mực đen; 01 bút mực nước mầu đen, ký hiệu A; 01 chiếc kéo bằng kim loại, cán bằng nhựa màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ; 01 bàn gỗ, mặt bàn bằng kim loại, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 55.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/12/2020, tại nhà ở của mình ở xóm 9, xã G, huyện V, bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số lô, số đề được thua bằng tiền với Phạm Văn T, Tạ Việt A và Vũ Nhật L với tổng số tiền là 5.690.000 đồng.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 321. Tội đánh bạc

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

….

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã nêu trên là phạm tội "Đánh bạc", được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công công, an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ.

Đánh bạc đang là một tệ nạn nguy hiểm, bị gia đình, xã hội lên án, Nhà nước ta đang ra sức loại trừ. Vì đánh bạc mà nhiều gia đình bị khánh kiệt, nợ nần chồng chất, nó cũng là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, có gia đình vợ con, nhưng không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà lại tham gia đánh bạc kiếm tiền bất chính. Hành vi của bị cáo bị chính gia đình bị cáo lên án, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý thật nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện nộp lại toàn bộ tiền thu lời bất chính. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia vào việc thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, tuy là ít nghiêm khắc hơn nhưng là sự trừng phạt nặng về kinh tế đối với bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với số tiền 8.899.000 đồng (gồm số tiền 390.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H; 3.200.00 đồng thu giữ của Tạ Việt Á; số tiền 2.100.000 thu giữ của Vũ Nhật L và số tiền 3.209.000 đồng bị cáo Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp). Quá trình điều tra, cũng như tại phiên Tòa đã xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.690.000 đồng, còn lại số tiền 3.209.000 đồng H khai là tiền bán số lô, đề cho người đi đường không xác định được tên, tuổi, địa chỉ. Sau đó H tổng hợp vào bảng lô, đề ngày 16/12/2020. Số tiền này do thu lợi bất chính mà có. Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 quyển sổ nhãn hiệu Hải Tiến ghi kết quả xổ số; 01 quyển sổ nhãn hiệu Phúc Vinh ghi kết quả xổ số; 01 bút bi mực đen; 01 bút nước chữ A mực mầu đen; 01 chiếc kéo bằng kim loại, cán bằng nhựa màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ; 01 bàn gỗ, mặt bàn bằng kim loại. Là vật chứng H dùng để Đánh bạc không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 55.000 đồng thu trong quá trình khám xét nhà của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra H không sử dụng vào mục đích Đánh bạc, cần trả lại cho H, tuy nhiên cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 140.000 đồng thu giữ của Phạm Văn T; số tiền 200.000 đồng trong số tiền 3.400.000 đồng thu giữ của Tạ Việt Á. Quá trình điều tra xác định đây là tiền của Phạm Văn T và Tạ Việt Á không sử dụng vào việc đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại tiền và tài sản nêu trên cho Phạm Văn T và Tạ Việt Á là phù hợp.

Đối với 01 bảng tổng hợp ghi các số lô, số đề trong ngày 16/12/2020, 01 cáp ghi số lô thu của Phạm Văn T, 01 cáp ghi số lô, số đề thu của Tạ Việt Á, 01 cáp ghi số lô, số đề của Vũ Nhật L là tài liệu chứng cứ, làm căn cứ để giải quyết vụ án. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã đưa các giấy tờ nêu trên vào hồ sơ vụ án là phù hợp.

. Trong vụ án này, Nguyễn Văn H còn có hành vi đánh bạc với Nguyễn Viết X, ngày 18/11/2020 với số tiền là 300.000 đồng, ngày 24/11/2020 với số tiền là 540.000 đồng, ngày 25/11/2020 với số tiền là 10.000 đồng. Ngày 16/12/2020 số tiền của Phạm Văn T sử dụng để đánh bạc là 390.000 đồng; số tiền của Tạ Việt Á sử dụng để đánh bạc là 3.200.000 đồng và số tiền của Vũ Nhật L sử dụng để đánh bạc là 2.100.000 đồng. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi đánh bạc ngày 18/11/2020, ngày 24/11/2020, ngày 25/11/2020 Nguyễn Văn H và Nguyễn Viết X; ngày 16/12/2020 Phạm Văn T, Tạ Việt Á và Vũ Nhật L chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”; nên hành vi nêu trên của các đối tượng nêu trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Công an huyện V ra quyết định xử phạt hành chính, tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips và 01 điện thoại Iphone 6 và truy thu số tiền đánh bạc đối với H, X, T, A và L, là phù hợp.

Ngoài việc ghi số đề cho Nguyễn Viết X, Phạm Văn T, Tạ Việt Á và Vũ Nhật L đã nêu trên, Nguyễn Văn H còn khai ghi số đề cho khách qua đường, nhưng không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ của những người khách đi đường này. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý.

. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: BÞ c¸o, ng­êi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan cã quyÒn kh¸ng c¸o theo luËt ®Þnh.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên!bố:!Bị cáo Nguyễn!Văn!H phạm tội "§¸nh b¹c”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 21.000.000 (Hai mươi mốt triÖu) ®ång.

2.!Biện!pháp!tư!pháp!và!xử!lý!vật!chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính là 8.899.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 quyển sổ nhãn hiệu Hải Tiến; 01 quyển sổ nhãn hiệu Phúc Vinh; 01 bút bi mực đen; 01 bút mực nước mầu đen, ký hiệu A; 01 chiếc kéo bằng kim loại, cán bằng nhựa màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ; 01 bàn gỗ, mặt bàn bằng kim loại, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 55.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Số tiền 5.690.000 đồng tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước và số tiền 55.000 đồng trả lại cho bị cáo gửi tại tài sản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V và số tiền 3.209.000 đồng bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0001297 ngày 10/03/2021 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh N. Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/02/2021, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về!án!phí:!Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn)đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ