- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VC2 ngày 24/02/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 390 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 13/2020/HS-GĐT Ngày 06 tháng 7 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Trần Minh Tuấn và ông Nguyễn Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Phùng Minh H, sinh năm 1980, tại tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ cư trú: tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Mường; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: nguyên Cán bộ Trạm y tế xã B; là Đảng viên dự bị (đã bị xóa tên trong danh sách dự bị); con ông Phùng Minh C (đã chết) và bà Hà Thị Đ; vợ là Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1983 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại nơi cư trú.
Người bị hại: Anh Nguyễn Phước Bảo L, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước, nên khoảng 18 giờ ngày 20/12/2018, Phùng Minh H đến nhà đang xây của chị Dương Thị Kim N tỉnh Đắk Lắk để gặp chị N. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, anh Nguyễn Phước Bảo L (là chồng chị N) điểu khiển xe mô chở cháu Nguyễn Phước Quý N1 đến đón chị N về. Thấy cổng khóa, có 02 xe mô tô dựng trong sân, anh L trèo tường rào vào thì phát hiện H và chị N đang ở trong phòng tắm, nghĩ là H và chị N đang quan hệ tình dục, anh L đi ra gọi thêm người chứng kiến, thì chị N từ trong phòng tắm đi ra. Khi chị N đi đến phòng khách, thì anh L dùng tay tát 02 cái vào mặt và chửi chị N. Thấy vậy, H (đang mặc quần lót) chạy lại can ngăn, thì anh L dùng mũ bảo hiểm màu trắng đang đội trên đầu đánh H. Bị đánh, H dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào mắt trái anh L, làm anh L ngã xuống nền nhà, H xông đến dùng tay đánh anh L nhiều cái vào mặt và đầu. Chị N vào can ngăn ôm che vùng đầu của anh L, nhưng H tiếp tục dùng mũ bảo hiểm (do anh L làm rớt trên nền nhà) đánh nhiều cái vào mặt, đầu anh L.
Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 156/PY-TgT ngày 16/01/2019, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Nguyễn Phước Bảo L bị chấn thương mắt trái, giảm thị lực 08%; chấn thương tai trái, thủng màng nhĩ 03%; chấn thương trán tỷ lệ 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%; vật tác động cứng tày.
Tại Bản kết luận pháp y bổ sung số 278/PY-TgT ngày 26/02/2019, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Nguyễn Phước Bảo L bị chấn thương mắt trái, giảm thị lực 08%; chấn thương trán tỉ lệ 01%; chấn thương tai, màng nhĩ trái, thủng màng nhỏ 03%; chấn thương màng nhĩ tai trái, sung huyết bầm tím vùng trung tâm đường kính 04 mm, di chứng sau khi sung huyết là thủng màng nhĩ. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%; vật tác động cứng tày.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 07/8/2019, Toà án nhân dân huyện K:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phùng Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 15/8/2019, Phùng Minh H kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Ngày 14/8/2019, anh Nguyễn Phước Bảo L có đơn xin bãi nại và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 302/2019/HS-PT ngày 21/10/2019, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Minh H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HSST ngày 07/8/2019 của Toà án nhân dân huyện K về biện pháp chấp hành hình phạt. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phùng Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VC2 ngày 24/02/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 302/2019/HS-PT ngày 21/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 07/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện K để xét xử sơ thẩm lại, với nội dung: Bản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là thiếu sót; từ đó, tuyên phạt bị cáo mức án 01 năm 03 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị xét xử) là chưa tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Bản án phúc thẩm không phát hiện ra thiếu sót của bản án sơ thẩm, không đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo nên cho bị cáo hưởng án treo là trái hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, cần hủy bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm để xét xử lại theo hướng áp dụng thêm các tính tiết tăng nặng để tăng hình phạt và không cho bị cáo H hưởng án treo.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tội danh:
Ngày 20/12/2018, tại nhà đang xây của chị Dương Thị Kim N ở tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Phùng Minh H đã sử dụng mũ bảo hiểm (là hung khí nguy hiểm) đánh vào vùng mặt và vùng đầu của anh Nguyễn Phước Bảo L; hậu quả, anh L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
. Về tình tiết định khung hình phạt:
Phùng Minh H đã có gia đình, nhưng lại có quan hệ tình cảm không lành mạnh với chị Dương Thị Kim N (là vợ của anh Nguyễn Phước Bảo L), mối quan hệ này đã được anh L nhắc nhở, nhưng Phùng Minh H không chấm dứt. Ngày 20/12/2018, khi anh L phát hiện H đang ở cùng vợ của mình, anh L đã dùng tay tát và chửi vợ, H can ngăn thì bị anh L dùng mũ bảo hiểm đánh. Tại thời điểm này, H không nhận thức được hành vi sai trái của mình mà còn dùng tay đấm 01 cái trúng vào mắt trái anh L. Anh L ngã xuống nền nhà, thì H xông đến dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, đầu anh L và khi chị N vào can ngăn, ôm che vùng đầu của anh L, thì H vẫn tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào mặt và đầu anh L. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ áp dụng tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm”, mà không xem xét tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo là không đúng pháp luật. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về nội dung này là có căn cứ.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
“Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là quyết tâm thực hiện bằng được ý định phạm tội và hành vi phạm tội, mặc dù có sự can ngăn của người khác hoặc có những trở ngại khác trong quá trình thực hiện tội phạm”. Ngày 20/12/2018, Phùng Minh H thực hiện hành vi dùng tay, mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào mặt và đầu anh Nguyễn Phước Bảo L, nhưng hành vi này diễn ra trong thời gian ngắn, không mang tính quyết liệt và khi được mọi người can ngăn, thì bị cáo không tiếp tục tấn công bị hại. Do đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là đúng. Vì vậy, Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận nội dung kháng nghị này.
. Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của Phùng Minh H là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự quy định về án treo, thì trường hợp của Phùng Minh H không đủ điều kiện được hưởng án treo. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, xử phạt Phùng Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo là áp dụng không đúng pháp luật. Tuy Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót trong việc không xem xét tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ”, nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp; tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, để ổn định bản án, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 302/2019/HS-PT ngày 21/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HSST ngày 07/8/2019 của Toà án nhân dân huyện K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 388 và Điều 390 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VC2 ngày 24/02/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TANDTC - Vụ I; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện K; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Người tham gia tố tụng (theo đ/c); - Lưu: H/sơ vụ án, Phòng GĐKT I (03 bản), Phòng HCTP và Phòng LTHS. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Cường |