- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Minh H về tội " Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 302/2019/HS-PT Ngày: 21-10-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Dần.
Các Thẩm phán: Ông Y Phi KBuôr và bà Trần Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 304/2019/TLPT-HS ngày 16/9/2019 đối với bị cáo Phùng Minh H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2019/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phùng Minh H - Sinh năm 1980; tại tỉnh Đăk Lăk; Nơi cư trú: Số nhà 1/7 V, Tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Cán bộ Trạm y tế xã B1 huyện K, tỉnh Đăk Lăk; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông C (đã chết) và con bà Đ, sinh năm 1953. Bị cáo có vợ là T, sinh năm 1983, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Bị cáo là đảng viên dự bị hiện đã bị xóa tên trong danh sách đảng viên dự bị theo Quyết định số 3033-QĐ/HU ngày 17/6/2019 của huyện ủy K.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Phước Bảo L, sinh năm 1977. Trú tại: Thôn 2, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Dương Thị Kim N, sinh năm 1980. Trú tại: Thôn 2, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên khoảng 18h ngày 20/12/2018, Phùng Minh H điểu khiển xe mô tô nhãn hiệu Win, màu đen, biển kiểm soát 37F6-3590 đến nhà đang xây của chị Dương Thị Kim N, ở Tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để gặp chị N. Khoảng 18h20’ cùng ngày anh Nguyễn Phước Bảo L (là chồng chị N) điểu khiển xe mô tô nhãn hiệu TAURUS màu đỏ-đen, biển kiểm soát 47L1-104.58 chở cháu Nguyễn Phước Quý N1 đến nhà chị N đang xây đón chị N về. Thấy cổng khóa, có xe mô tô của H và chị N dựng trong sân, anh L trèo tường rào vào thì phát hiện H và N đang ở trong phòng tắm, nghĩ là H và chị N đang quan hệ tình dục nên anh L đi ra gọi thêm người chứng kiến thì chị N từ trong phòng tắm đi ra theo đến phòng khách. Khi chị N đi đến phòng khách thì anh L đi đến dùng tay tát 02 cái vào mặt chị N và chửi chị N. Thấy vậy, H (đang mặc quần lót) chạy lại can ngăn thì anh L dùng mũ bảo hiểm màu trắng đang đội trên đầu đánh H trúng vào vùng thái dương trái. Bị đánh nên H dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào mắt trái anh L, làm anh L ngã xuống nền nhà. H tiếp tục xông đến dùng tay đánh anh L nhiều cái vào mặt và đầu, chị N vào can ngăn ôm che vùng đầu của anh L. H tiếp tục dùng mũ bảo hiểm của anh L làm rớt trên nền nhà đánh nhiều cái vào mặt, đầu anh L. Cùng thời điểm này anh Nguyễn Thành S cùng người dân đứng ngoài cổng hô to yêu cầu H dừng lại thì H đi vào nhà tắm mặc quần áo, còn chị N ra mở cổng. Sau đó, H tiếp tục cầm mũ bảo hiểm màu trắng định đánh anh L thì anh S hô lên: “dừng lại!” nên H đập mũ bảo hiểm xuống nền nhà, chị N chạy vào nhà ôm và dìu anh L ra ngoài sân rồi lấy chìa khóa mở cổng cho mọi người vào. Lúc này, H cầm cây gậy bằng sắt (có kích thước khoảng 70-80cm) chạy ra thì mọi người can ngăn. Sau đó, anh L được mọi người đưa đi đến Bệnh viện đa khoa huyện K, sau chuyển đến Bệnh viện đa khoa vùng TN điều trị. Đến ngày 09/1/2019 thì ra viện về nhà điều trị ngoại trú.
Tại Bản kết luận pháp y thương tích, số: 156/PY-TgT ngày 16/01/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Anh Nguyễn Phước Bảo L bị chấn thương mắt trái, giảm thị lực 08%, chấn thương tai trái, thủng màng nhỉ 03%; chấn thương trán tỉ lệ 01 %; Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Vật tác động cứng tày.
Tại Bản kết luận pháp y bổ sung số: 278/PY-TgT ngày 26/02/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Anh Nguyễn Phước Bảo L bị chấn thương mắt trái, giảm thị lực 08%, chấn thương trán tỉ lệ 01 %; chấn thương tai, màng nhĩ trái, thủng màng nhỏ 03%. Chấn thương màng nhỉ tai trái, sung huyết bầm tím vùng trung tâm đường kính 04mm, di chứng sau khi sung huyết là thủng màng nhỉ; Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Vật tác động cứng tày.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HSST ngày 07/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phùng Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/8/2019 bị cáo Phùng Minh H kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 14/8/2019 ông Nguyễn Phước Bảo L có đơn xin bãi nại và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Đồng thời, bị cáo cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã phân tí ch, đá nh giá tí nh chấ t, mứ c độ nguy hiể m cho xã hộ i đố i vớ i hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cá o và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phùng Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được người bị hại làm đơn bãi nại xin cho bị cáo hưởng án treo nhưng xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phùng Minh H là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Minh H – Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 16/2019/HSST ngày 07/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 01 năm 3 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên tòa người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phùng Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18h20’ ngày 20/12/2018, tại nhà chị Dương Thị Kim N ở tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện K, bị cáo Phùng Minh H đã có hành vi dùng tay và mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào vùng mặt, vùng đầu và mắt anh Nguyễn Phước Bảo L làm anh L bị tổn thương cơ thể 12%. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phùng Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Phùng Minh H xin được hưởng án treo: Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phùng Minh H 01 năm 03 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, là dân tộc thiểu số, bị cáo có thành tích tham gia cứu người trong đợt lũ quét có giấy xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với số tiền 45.600.000 đồng và được người bị hại làm đơn bãi nại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội chịu sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về án phí: Bị cáo Phùng Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Minh H - Sửa Bản án sơ thẩm số 16/2019/HSST ngày 07/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.
[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Minh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian thủ thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; -Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp; - TAND huyện K; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - T.H.A.HS huyện K; - UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Công Dần |