vanban.org

Quyết định 13/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị Kim T.

Tuyên bố ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai mất tích kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về quản lý tài sản của ông C: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2019/QĐST-DS
Ngày: 13-9-2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Minh Thảo - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 78/2019/TLST-VDS ngày 11 tháng 4 năm 2019 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 63/2019/QĐST-VDS ngày 03 tháng 9 năm 2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967

Nơi cư trú cuối cùng: Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 25/3/2019, người yêu cầu bà Lê Thị Kim T trình bày:

Bà và ông Lê Huỳnh C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 75/KH-UB do Ủy ban nhân dân Phường 8, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre cấp ngày 07/11/2002.

Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn vì bà T bị bệnh và không thể sinh con. Từ tháng 12/2016, ông C đã bỏ đi cho đến nay không liên lạc về gia đình và cũng không có tin tức gì, dù bà đã cố gắng tìm kiếm và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nay để thực hiện thủ tục ly hôn nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai mất tích.

Bà T khai giữa bà và ông C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc quản lý tài sản của ông Lê Huỳnh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn yêu cầu tuyên bố ông Lê Huỳnh C mất tích nộp ngày 25/3/2019 của bà Lê Thị Kim T, có cơ sở xác định yêu cầu của bà T là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật dân sự năm 2015. Người bị yêu cầu là ông Lê Huỳnh C có nơi cư trú cuối cùng tại Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quyền yêu cầu tuyên bố một người mất tích:

Bà Lê Thị Kim T là vợ của ông Lê Huỳnh C nên có quyền yêu cầu tuyên bố ông C mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo lời trình bày của bà Lê Thị Kim T thì bà và ông Lê Huỳnh C xây dựng gia đình năm 2002, trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn vì bà bị bệnh và không thể sinh con. Từ tháng 12/2016, ông C bỏ nhà tại địa chỉ Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đi cho đến nay, mặc dù bà T đã tìm mọi cách để nhắn tin, tìm kiếm nhưng không tìm được và cũng không có tin tức về ông C. Nay để thực hiện thủ tục ly hôn với ông C nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai mất tích.

Tại biên bản xác minh của Công an xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai ngày 12/4/2019 xác nhận: Ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967, đã bỏ địa phương đi từ tháng 12/2016, không có mặt tại địa số 363/chỉ 12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, không rõ đi đâu, không khai báo với chính quyền địa phương.

Ngày 22 tháng 4 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 118/2019/QĐST - VDS, thông báo tìm kiếm đối với ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và đăng tin liên tục trên ba số báo ra hàng ngày của Trung ương và phát thanh ba ngày liên tục trên đài phát thanh Trung ương; Từ ngày đăng báo đầu tiên là ngày 30/4/2019 cho đến nay là hơn 04 tháng vẫn không có tin tức gì về ông Lê Huỳnh C.

Như vậy, ông Lê Huỳnh C đã biệt tích 02 (hai) năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc ông Lê Huỳnh C còn sống hoặc đã chết mặc dù bà Lê Thị Kim T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 của Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, việc bà Lê Thị Kim T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Huỳnh C mất tích là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên họp phát biểu: Quá trình thụ lý và tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 và Điều 377 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, đề nghị Thẩm phán Chủ tọa phiên họp áp dụng khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà T.

Về quản lý tài sản của ông C: Không xem xét.

Về lệ phí: Bà Lê Thị Kim T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị Kim T.

Tuyên bố ông Lê Huỳnh C, sinh năm 1967, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 363/12/1/12, Tổ 3, Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai mất tích kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về quản lý tài sản của ông C: Không xem xét.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Thị Kim T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001377 ngày 09/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Thành. Bà T đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp được quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ